Chức năng nhiệm vụ

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP. Hồ Chí Minh là Viện chuyên khoa đầu ngành của khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng về nghiên cứu và chỉ đạo phòng chống sốt rét, phòng chống các bệnh ký sinh trùng, bệnh do côn trùng truyền, góp phần chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân khu vực, nhất là cộng đồng các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới và hải đảo.

Chức năng:
Viện có chức năng nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ chuyên ngành về sốt rét, ký sinh trùng, các bệnh do véc tơ truyền và các biện pháp phòng chống ở các tỉnh khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng.

Nhiệm vụ:

a) Nghiên cứu khoa học:
- Nghiên cứu cơ bản về mầm bệnh (dịch tễ học, ký sinh trùng học, các kỹ thuật chẩn đoán, lâm sàng, các loại thuốc và điều trị...), véc tơ truyền bệnh (thành phần, mật độ, phân bố, sinh lý, sinh thái...), các thuốc, hoá chất, chế phẩm và các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét, bệnh giun, sán, bệnh sốt xuất huyết, các bệnh do ký sinh trùng và côn trùng truyền khác.
- Nghiên cứu các yếu tố sinh thái người, kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên liên quan đến bệnh sốt rét, các bệnh do ký sinh trùng và các bệnh do côn trùng truyền.
- Nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về dịch tễ học, về chẩn đoán, điều trị bệnh sốt rét, bệnh giun, sán, bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do véc tơ truyền khác. Nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học về điều tra, giám sát, đánh giá, định loại và các biện pháp phòng chống véc tơ truyền bệnh sốt rét, bệnh giun, sán và các bệnh do véc tơ truyền khác.

b) Chỉ đạo tuyến:
- Giúp Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ đạo về chuyên môn kỹ thuật, kế hoạch phòng chống bệnh sốt rét, bệnh giun, sán, bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do véc tơ truyền khác.
- Chỉ đạo, tham mưu xây dựng và tổ chức hoạt động mạng lưới chuyên khoa phòng chống bệnh sốt rét, bệnh giun, sán, bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do véc tơ truyền khác ở các tỉnh khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng.
- Xây dựng kế hoạch, chương trình, dự án và theo dõi, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét, bệnh giun, sán, bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do véc tơ truyền khác ở khu vực phụ trách. Thực hiện chế độ báo cáo về mọi hoạt động của Viện theo quy định.

c) Đào tạo:
- Tổ chức đào tạo và đào tạo lại cán bộ chuyên môn kỹ thuật chuyên ngành cho địa phương, cho Viện và các cá nhân, tổ chức có nhu cầu.
- Tham gia đào tạo cán bộ đại học, sau đại học về chuyên ngành tại các cơ sở đào tạo theo yêu cầu.

d) Truyền thông giáo dục sức khoẻ:
- Nghiên cứu xây dựng nội dung, hình thức, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, phối hợp thực hiện các các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ phòng chống bệnh sốt rét, bệnh giun, sán, bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do véc tơ truyền khác.

e) Hợp tác quốc tế:
- Chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước về nghiên cứu khoa học, đào tạo, phối hợp thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét, bệnh giun, sán, bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do véc tơ truyền khác.

f) Cung cấp dịch vụ y tế:
- Tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật và y tế dự phòng phù hợp với các chức năng nhiệm vụ được giao:
- Dịch vụ khám chữa bệnh, khám bảo hiểm y tế, tiêm chủng, xét nghiệm và dịch vụ tư vấn sức khỏe trong phạm vi chuyên ngành sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng.
- Dịch vụ nghiên cứu và sản xuất test chẩn đoán bệnh giun sán, thử nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc điều trị sốt rét, bệnh ký sinh trùng và các bệnh nhiệt đới do véc tơ truyền.
- Dịch vụ phòng chống véc tơ, sản xuất và bán các sản phẩm diệt côn trùng, khảo nghiệm, thử nghiệm hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng và các chế phẩm sinh học thuộc lĩnh vực y tế dự phòng.
- Dịch vụ huấn luyện và đào tạo theo yêu cầu, dịch vụ khoa học công nghệ và các dịch vụ khác thuộc lĩnh vực y tế dự phòng.
- Thực hiện các dịch vụ khoa học kỹ thuật theo yêu cầu của các tổ chức và cá nhân, chuyển giao, cung ứng dịch vụ công nghệ cho các tuyến trong khu vực quản lý và các dịch vụ khác.

g) Quản lý đơn vị:
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Viện; quản lý tổ chức, biên chế, cán bộ, viên chức, tiền lương, tài chính, tài sản và các trang thiết bị của Viện theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức mua sắm, phân phối và quản lý việc sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị y tế chuyên ngành cho địa phương, đơn vị trong khu vực.
- Tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Viện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đúng quy định của Pháp luật.
- Triển khai các dịch vụ khoa học kỹ thuật, các dự án hợp tác quốc tế, hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước.

Một số đặc điểm tình hình chung của khu vực Viện phụ trách hiện nay

a) Về địa bàn, dân cư, dân số:

Năm 2011 khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng có 20 tỉnh, thành phố; 208 huyện, thị xã; 2.606 xã, phường, thị trấn; 16.920 thôn, ấp. Địa bàn hội đủ các vùng sinh thái liên quan đến lưu hành bệnh sốt rét, các bệnh do ký sinh trùng và côn trùng truyền, có 1 tỉnh Tây Nguyên, 6 tỉnh Đông Nam Bộ, 13 tỉnh Tây Nam Bộ. Dân số 33.093.275 người.

b) Về bệnh sốt rét và phòng chống bệnh sốt rét:

Có gần 8.000.000 dân sống trong vùng sốt rét lưu hành (chiếm 22,56% dân số chung của khu vực). Dân số giao lưu với vùng sốt rét lưu hành gần 7.000.000 người, do đó tổng dân số nguy sốt rét trên 8.000.000 người.

Vùng sốt rét lưu hành nặng ở khu vực có nhiều đối tượng di biến động, dân di cư tự do lớn, hầu hết các tỉnh của cả nước, từ miền Bắc, miền Trung - Tây Nguyên, miền Đông và miền Tây Nam Bộ, dân từ các vùng sốt rét lưu hành nhẹ hoặc không còn sốt rét lưu hành (Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Long An, Cần Thơ,…) đến làm ăn, buôn bán, cộng với số dân ở các huyện, xã khác trong tỉnh đến địa phương có sốt rét lưu hành nặng tạo ra sự đa dạng về dịch tễ bệnh sốt rét, sự khó khăn trong việc giám sát, can thiệp các biện pháp phòng chống sốt rét của khu vực và của cả nước. Khu vực cũng là nơi năm 2009 phát hiện có ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc sốt rét (P. falciparum kháng artesunat) đầu tiên ở Việt Nam và là nước thứ hai phát hiện ký sinh trùng kháng thuốc trên thế giới (sau Campuchia).

Với sự giao lưu lớn, đa dạng và phức tạp, với sự xuất hiện của ký sinh trùng kháng thuốc ở khu vực, việc phòng chống sốt rét trở nên khó khăn, phức tạp và do đó đòi hỏi công tác phòng chống sốt rét phải quyết liệt hơn để vừa thực hiện các mục tiêu giảm mắc, giảm chết do sốt rét, vừa ngăn chặn và loại trừ ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc ở Việt Nam.

b) Về giun, sán và phòng chống bệnh giun, sán:

Khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng có nhiều cộng đồng dân cư, dân tộc, mỗi nơi có những tập quán sinh hoạt, lao động, chăn nuôi và canh tác khác nhau, bên cạnh đó điều kiện vệ sinh môi trường thuộc khu vực nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm quanh năm, có nhiều bệnh truyền nhiễm, trong đó bệnh giun sán lưu hành rộng rãi, đặc biệt là các bệnh giun truyền qua đất.

Mặc dù chưa được đầu tư đáp ứng nhu cầu, các hoạt động chưa được triển khai thực hiện đầy đủ, rộng khắp nhưng đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật vẫn được duy trì thường xuyên tại Viện Sốt rét - KST - CT TP. HCM, Khoa Ký sinh trùng phụ trách công tác nghiên cứu, chỉ đạo và tổ chức phòng chống giun, sán cho toàn khu vực. Ở tuyến tỉnh, thành phố có các khoa ký sinh trùng (ở các trung tâm phòng chống sốt rét), hoặc tổ ký sinh trùng thuộc khoa sốt rét (ở các trung tâm y tế dự phòng) phụ trách công tác ký sinh trùng sốt rét, giun, sán. Ở tuyến huyện, xã hiện tại hầu như không có hệ thống chuyên trách phòng chống giun, sán. Nhân lực chuyên trách phòng chống giun, sán còn hạn chế cả về số lượng, trình độ chuyên môn, chỉ có một số ít cán bộ có trình độ chuyên ngành ký sinh trùng ở tuyến Trung ương, ở các địa phương hầu như chưa có hoặc chưa được đào tạo chuyên ngành. Trang thiết bị ở các tuyến hầu như chưa được đầu tư, chỉ một số thiết bị được đầu tư thông qua các dự án hỗ trợ quốc tế. Hoạt động giám sát và phòng chống bệnh giun, sán ở khu vực nhìn chung chưa được tổ chức thực hiện một cách đầy đủ và có hệ thống, chỉ một số hoạt động điều tra, can thiệp rời rạc từ các nguồn đầu tư ít ỏi của nhà nước và của các tổ chức quốc tế.

Mặc dù chưa được điều tra đầy đủ nhưng theo báo cáo, ở các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng cho thấy nhiễm giun truyền qua đất rải rác ở nhiều vùng, tỷ lệ nhiễm giun móc, giun kim, đơn bào đều cao, ở Long An, Vĩnh Long, Sóc Trăng cũng phát hiện tỷ lệ nhiễm sán dây. Tỷ lệ nhiễm giun móc khá cao, đặc biệt các tỉnh Tây nguyên và miền Đông Nam Bộ.

Về phòng chống giun sán ở khu vực, tiếp tục thực hiện các hoạt động của các chương trình, dự án hỗ trợ nhỏ từ Tổ chức Y tế thế giới và các dự án khác. Năm 2010 Viện Sốt rét - KST - CT TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng và được Bộ Y tế phê duyệt Dự án “Phòng chống giun sán trẻ em lứa tuổi học đường khu vực Nam bộ - Lâm Đồng”, hiện nay đang triển khai thí điểm ở các tỉnh đại diện các vùng sinh thái ở khu vực (Lâm Đồng, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh và Sóc Trăng).

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,