Tính an toàn của Artemisinin khi dùng trong thai kỳ: Một câu hỏi cấp bách
Trong điều trị sốt rét, số các nước ở châu Phi cận Sahara dùng phác đồ điều trị có phối hợp artemisinin (ACT) là thuốc lựa chọn hàng đầu hoặc thứ hai đang tăng dần. Vấn đề đặt ra là sự an toàn của các thuốc này đối với phụ nữ mang thai nhưe thế nào. Thông qua các kết quả được công bố trên các tạp chí về sốt rét ở phụ nữ có thai sử dụng ACT, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp, xem xét mối liên quan giữa sử dụng ACT và những bất lợi ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai cũng như tính an toàn, tác dụng phụ của thuốc này khi dùng trong thời kỳ mang thai, đồng thời theo dõi các biểu hiện của trẻ sơ sinh và các vấn đề liên quan khác.

Qua phân tích 14 nghiên cứu có liên quan (bao gồm 9 trường hợp mô tả hoặc báo cáo ca bệnh và 5 thử nghiệm có đối chứng). Số lượng người tham gia trong các nghiên cứu này dao động từ 6 đến 461. Tổng cộng có 945 phụ nữ được báo cáo là có sử dụng ACT trong thời kỳ mang thai, 123 trường hợp trong 3 tháng đầu và 822 trường hợp trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ. Qua phân tích cho thấy, các mục tiêu chính của những nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của thuốc và việc cắt ký sinh trùng, mục tiêu thứ 2 là đánh giá ảnh hưởng của thuốc trực tiếp tới thai nhi bao gồm tình trạng thiếu cân ở trẻ sơ sinh, sinh non, sẩy thai, di tật bẩm sinh và chậm phát triển. Không có nghiên cứu nào cho thấy có bằng chứng về mối liên quan giữa việc sử dụng các ACT và ảnh hưởng bất lợi của nó tới thai kỳ. Nhưng cũng không có nghiên cứu nào có cỡ mẫu đủ lớn để phát hiện những khác biệt có ý nghĩa về mặt y tế công cộng trong tần suất xảy ra. Khó khăn trong việc phân tích tổng hợp là do sự không đồng nhất trong những nghiên cứu đó về ACT và những thuốc dùng để so sánh cũng như những tiêu chuẩn về hậu quả bất lợi của thai kỳ.
Với số liệu hạn chế như vậy, các tác giả nhận thấy ACT có hiệu quả và không gây tác hại đối với phụ nữ mang thai hay gây những bất thường cho thai nhi khi được sử dụng vào giai đoạn cuối thai kỳ. Tuy nhiên những nghiên cứu này cỡ mẫu còn hạn chế, lực mẫu và những tiêu chí khác không đủ mạnh để loại trừ các tác dụng phụ bất lợi nghiêm trọng hiếm gặp (dù xảy ra ở 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối), chưa đủ bằng chứng để đánh giá rủi ro - lợi ích của các ACT đối với phụ nữ có thai, đặc biệt khi dùng thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Việc nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, phương pháp nghiên cứu nghiêm ngặt hơn và theo dõi cảnh giác dược là những yêu cầu đặt ra sau các nghiên cứu trên.
Nguồn: http://www.malariajournal.com/content/6/1/15
Huyền Trang (Khoa Nghiên cứu lâm sàng)
TIN KHÁC
Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM: Đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua tập huấn ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý và chuyên môn
Khai giảng lớp Kỹ năng phòng chống côn trùng Khóa 23 - Năm 2025: “Nâng cao kiến thức & kỹ năng ứng phó với mối nguy từ côn trùng”
Triển khai đánh giá hiệu quả phòng chống sốt xuất huyết tại An Giang
Triển khai hoạt động chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao kiến thức về công tác “Giám sát véc tơ chân đốt y học và biện pháp phòng chống véc tơ chân đốt y học” tại TP. Cần Thơ
ONE HEALTH, MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI, ĐỘNG VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG
Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Sốt rét – KST – CT TP. HCM (18/01/1977 – 18/01/2017) & Đón nhận Huân chương Lao động hạng I
13/01/2017Lớp tập huấn đánh giá kết quả phòng chống sốt rét giai đoạn 2011 - 2015
26/10/2015Thông báo tuyển sinh khóa 45 năm 2015
23/10/2015Công đoàn Viện Sốt rét - KST - CT TP. HCM tổ chức tham quan du lịch
19/10/2015