Hình thái và chỉ số hình thái học của bọ gậy Aedes aegypti
Muỗi vằnAedesaegypti(Linnaeus) –véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết– thuộc họCulicidaevà bộDiptera. Con cáiAe. aegyptithường đẻ trứng trong các vật chứa nước nhân tạo. Bọ gậy sau khi nở sẽ phát triển và biến đổi hình thái. Trong vòng đời, bốn giai đoạn bọ gậy và một giai đoạn quăng sống ở môi trường nước, còn muỗi trưởng thành sống trong không khí. Trong quá trình phát triển bọ gậy, có sự thay đổi về hình thái và kích thước. Bọ gậy giai đoạn I chỉ dài khoảng 1 mm, trong khi ở giai đoạn IV có thể đạt tới 8 mm [1]. Khi lột xác lần thứ tư, quăng xuất hiện với hầu hết các cơ quan của muỗi trưởng thành, và sau khi thoát xác, một con muỗi hoàn chỉnh hình thành. Việc nhận dạng bọ gậy, quăng và muỗi trưởng thànhAe. aegyptidựa trên đặc điểm hình thái ngay sau khi thu thập có giá trị quan trọng trong việc xác định sự phân bố véc tơ. Phần lớn các cách định loạiAe. aegyptichủ yếu dựa vào đặc điểm của muỗi trưởng thành và bọ gậy giai đoạn IV, trong khi các bọ gậy giai đoạn I, II và III cũng thường xuất hiện trong mẫu và cần được định danh. Trong các mẫu bọ gậyAe. aegypti, thường có sự hiện diện đồng thời của các loài khác (ví dụAe. albopictus,Ae. vittatus) [2]. Điều này gây khó khăn trong việc định danh tất cả loài muỗi trong mẫu, bởi các cách phân loại hiện nay chưa bao quát tất cả giai đoạn bọ gậy [3]. Hình thái các bộ phận cơ thể của bọ gậyAe. aegyptinhư đầu, cổ, ngực, bụng cùng các cấu trúc như chổi miệng, chổi giữa, gai trước trán, lông môi dưới, mắt kép, râu, gai lược, ống thở, răng lược và mai hậu môn (bánh lái) đã được nhiều nhà nghiên cứu mô tả [4,5,6]. Ở giai đoạn I, đầu bọ gậyAe. aegyptihẹp và tam giác; ở các giai đoạn sau, vỏ đầu phình dần, trở nên lồi và cuối cùng có dạng hình cầu [7]. Klingenberg và Zimmermann [8] đã áp dụng quy tắc Dyar lên chiều rộng đầu của bọ nước Gerris và Aquarius (Heteroptera: Gerridae) và nhận thấy dữ liệu phù hợp trong một số trường hợp, với tỷ lệ tăng trưởng khác nhau giữa các lần lột xác. Mohammadi và cộng sự [9] áp dụng quy tắc Dyar lên các phần cơ thể hóa cứng của sâu bông (Helicoverpa armigera) và nhận thấy tỷ lệ kích thước ổn định trong phạm vi nhất định. Ghafoor [10] áp dụng quy tắc Dyar lên chiều rộng vỏ đầu sâu Agrotis ipsilon và ghi nhận từ 0,28 mm ở giai đoạn I đến 3,42 mm ở giai đoạn VI. Trong nghiên cứu này, quy tắc Dyar được áp dụng cho chiều rộng vỏ đầu, cổ, ngực và bụng của bọ gậyAe. aegypti. Râu bọ gậy có dạng trơn, hình trụ và mang một sợi lông đơn [7]. Trên đầu bọ gậy muỗi, một cặp mắt kép lớn nằm dưới râu, ở vị trí bên. Bọ gậyAe. aegyptisống trong nhiều loại thủy vực nhỏ. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH, dưỡng chất hòa tan và khí trong nước đều ảnh hưởng đến sự phát triển của bọ gậy. Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, thiếu thức ăn [7] và tăng độ mặn [11] đều làm giảm tốc độ tăng trưởng và trì hoãn phát triển của bọ gậy. Ngoài ra, các tác giả khác còn ghi nhận sự thay đổi về hình thái ở giai đoạn bọ gậy, quăng và muỗi trưởng thành. Một số dạng hình thái khác nhau trong loàiAe. aegypticũng đã được mô tả như sensu stricto, formosus (Walker) và queenslandensis (Theobald) [12,13].
1. Các hoạt động triển khai
Hình thái của bọ gậy Ae. aegypti được phân tích chi tiết. Các vùng cơ thể như đầu, râu, chổi giữa, chổi bên, cổ, ngực, bụng, ống thở và mai hậu môn (bánh lái) được chọn để mô tả và đo đạc. Mẫu bọ gậy được bảo quản trong dung dịch formalin để quan sát hình thái dưới kính hiển vi soi nổi hai mắt. Mỗi bộ phận cơ thể sử dụng 20 cá thể bọ gậy Ae. aegypti để đo và mô tả
Các bộ phận được quan sát gồm: đầu, râu, chổi giữa, chổi bên, cổ, ngực, bụng, ống thở và mai hậu môn (bánh lái). Hình ảnh được chụp và chuyển vào máy tính thông qua hệ thống ghi hình; kích thước (chiều dài/rộng) được đo bằng phần mềm Image J cho nghiên cứu hình thái học .
Ở một số loài muỗi, kích thước vỏ đầu tăng theo một hệ số cố định ở mỗi lần lột xác – gọi là quy tắc Dyar [6]. Trong nghiên cứu này, quy tắc Dyar được áp dụng không chỉ cho vỏ đầu mà còn cho cổ, ngực và bụng của bọ gậy Ae. aegypti.
Hình 1.Hình minh họa mặt lưng của đầu bọ gậy cho thấy cách đo góc định hướng của mắt kép so với bờ lỗ chẩm và đường giữa của đầu.
Vị trí của mắt kép trên mặt lưng đầu bọ gậy Ae. aegypti ở các giai đoạn khác nhau được quan sát và đo lường. Khoảng cách từ đường giữa vỏ đầu đến mắt, góc định hướng từ bờ chẩm về phía đường giữa, và chiều rộng mắt kép đều được đo. (Hình 1). Số lượng gai lược (ở đốt bụng VIII) và răng lược (ống thở) được đếm và đo kích thước.
2. Kết quả
Trứng của Ae. aegypti có màu đen, hình bầu dục và giống như chiếc thuyền. Khi nở, bọ gậy có hình trong suốt. Chúng lớn dần và sẫm màu trước mỗi lần lột xác. Sau lần lột xác đầu tiên, bọ gậy giai đoạn II xuất hiện trong suốt. Ở mỗi giai đoạn, bọ gậy sẽ dần sẫm màu trước khi lột xác và trở lại trong suốt ngay sau khi thoát xác.
Kích thước bọ gậy: Bọ gậy Ae. aegypti tăng kích thước trong quá trình phát triển. Chiều dài trung bình ở các giai đoạn I, II, III và IV lần lượt là 1,745 mm; 2,935 mm; 4,343 mm và 7,202 mm.
2.1. Đầu
Ở bọ gậy Ae. aegypti mới nở, vỏ đầu bị ép theo chiều ngang. Sang giai đoạn II, đầu phát triển thành dạng lồi; ở các giai đoạn sau, vỏ đầu trở nên hình cầu.
2.1.1. Nhìn từ lưng
Ở mặt lưng, bao đầu của bọ gậy Ae. aegypti tăng chiều rộng một cách đáng kể từ 0,235 mm đến 0,987 mm (Bảng 1, Hình 2) và chiều dài từ 0,260 mm đến 0,868 mm (Bảng 2, Hình 3) từ giai đoạn bọ gậy I đến IV. Bờ chẩm của đầu bọ gậy giai đoạn I tại lỗ chẩm có dạng lõm (cong lên trên), trong khi từ giai đoạn bọ gậy II trở đi, nó có hình dạng lồi. Ở bờ sau của đầu bọ gậy có vòng cổ bao quanh lỗ chẩm. Tại đường giữa phía trước của vòng cổ có một đường khớp gian sọ hình chữ ‘Y’. Đường này đi qua giữa hai mắt kép và hai râu của bao đầu, nghĩa là nó nằm giữa mắt kép và phía ngoài của râu từ giai đoạn I đến III. Ở giai đoạn bọ gậy IV, hai nhánh hình chữ ‘V’ của đường khớp gian sọ tại vùng đỉnh đầu di chuyển vào trong và đến vị trí phía trong của ụ râu. Những đường khớp trán này là các điểm yếu trên bao đầu, nơi sẽ tách ra trong quá trình lột xác ở mỗi lần thay lột.
2.1.2. Nhìn từ bụng
Ở mặt bụng của đầu bọ gậy, bờ chẩm có hình dạng lõm, và phần dưới của khe cổ hình chữ Y có thể quan sát được tại bờ chẩm, gần với vòng cổ. Chiều rộng của lỗ chẩm cũng tăng dần qua các giai đoạn bọ gậy từ I đến IV, với các kích thước lần lượt là 0,175 mm, 0,252 mm, 0,326 mm và 0,519 mm.
Bảng 1.Chiều rộng của đầu, cổ, ngực và bụng của bọ gậy Ae. aegypti từ giai đoạn I đến IV, và các hệ số theo quy luật Dyar
Vùng | Thông số | Giai đoạn bọ gậy | Hệ số | |||||
I | II | III | IV | Giữa giai đoạn | Giữa giai đoạn II-III (b) | Giữa giai đoạn III-IV(c) | ||
Đầu | Chiều rộng | 0.235a ±0.012 | 0.392b ±0.057 | 0.640c ±0.050 | 0.987d ±0.104 | 0.15* | 0.25* | 0.35* |
Cổ | Chiều rộng | 0.096a ±0.012 | 0.151b ±0.016 | 0.254c ±0.030 | 0.464d ±0.060 | 0.06 | 0.10 | 0.21 |
Ngực | Chiều rộng | 0.248a ±0.054 | 0.491b ±0.081 | 0.749c ±0.076 | 1.401d ±0.172 | 0.24 | 0.26 | 0.65 |
Bụng | Chiều rộng | 0.152a ±0.024 | 0.293b ±0.054 | 0.487c ±0.074 | 0.858d ±0.117 | 0.14 | 0.20 | 0.37 |
a, b, c, d – các chữ cái khác nhau biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) về tăng trưởng giữa các giai đoạn bọ gậy trong cùng một hàng đối với từng thông số cụ thể. *- để thể hiện cùng một mức chênh lệch (10) trong hệ số tăng trưởng chiều rộng đầu bọ gậy giữa các giai đoạn (tức là giữa I–II, II–III và III–IV). | ||||||||
Hình 2.Biểu đồ thể hiện chiều rộng của đầu, cổ, ngực và bụng của Ae. aegypti.
Bảng 2.Thay đổi kích thước của Ae. aegypti trong quá trình phát triển của bọ gậy
Vùng | Thông số | Giai đoạn bọ gậy | |||
I | II | III | IV | ||
Đầu | Chiều dài | 0.260a ± 0.027 | 0.380a ± 0.044 | 0.608b ± 0.045 | 0.868c ± 0.098 |
Cổ | Chiều dài | 0.064a ± 0.012 | 0.066a ± 0.022 | 0.087b ± 0.024 | 0.108c ± 0.031 |
Ngực | Chiều dài | 0.222a ± 0.047 | 0.409b ± 0.074 | 0.639c ± 0.073 | 1.107d ± 0.138 |
Bụng | Chiều dài | 1.199a ± 0.225 | 2.080b ± 0.363 | 3.009c ± 0.251 | 5.119d ± 0.542 |
Tổng | Chiều dài | 1.745 ± 0.311 | 2.935 ± 0.503 | 4.343 ± 0.393 | 7.202 ± 0.809 |
a, b, c, d – khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) giữa các giai đoạn bọ gậy khác nhau trong cùng một hàng đối với các thông số cụ thể | |||||
Hình 3.Biểu đồ thể hiện chiều dài của đầu, cổ, ngực và bụng của Ae. aegypti.
2.1.3. Quy tắc Dyar
Trong nghiên cứu này, chiều rộng của bao đầu bọ gậy Ae. aegypti đã được đo và quy luật Dyar đã được áp dụng để quan sát tốc độ tăng trưởng của bao đầu bọ gậy Ae. aegypti. Các hệ số giữa các giai đoạn phát triển khác nhau của bọ gậy (tức là chiều rộng của bao đầu giữa các giai đoạn liên tiếp) đã được tính toán, với các giá trị như sau: giữa giai đoạn I và II là 0,15; giữa II và III là 0,25; giữa III và IV là 0,35. Các hệ số tính được giữa các giai đoạn không phải là một hằng số (có sự khác biệt giữa các giai đoạn kế tiếp). Mặc dù bao đầu của bọ gậy Ae. aegypti không tuân theo quy luật Dyar, nhưng lại xuất hiện một hệ số giống nhau là 0,10, được tìm thấy giữa các hệ số đã tính (tức là giữa 0,15 và 0,25; 0,25 và 0,35). Việc quan sát thấy một hệ số chung nằm giữa các hệ số đã tính của Ae. aegypti phản ánh một mô hình tăng trưởng nhất định của bao đầu bọ gậy.
Tương tự, chiều rộng của cổ, ngực và bụng cũng được đo và quy luật Dyar được áp dụng để xác định tốc độ tăng trưởng. Mặc dù kích thước đầu, cổ, ngực và bụng ở mỗi giai đoạn bọ gậy đều tăng đáng kể, nhưng tốc độ tăng trưởng không tuân theo một hệ số cố định (Bảng 1). Vì các hệ số này khác nhau, nên chúng không tuân theo quy luật Dyar.
2.1.4. Râu.
Trên đầu bọ gậy Ae. aegypti, một cặp râu có thể quan sát được, có hình thẳng, rộng ở gốc và thu hẹp dần về phía đầu mút (Hình 5). Chiều dài của râu tăng đáng kể trong quá trình phát triển bọ gậy, từ 0,078 mm ở giai đoạn bọ gậy I lên đến 0,258 mm ở giai đoạn IV (Bảng 3, Hình 4). Ở giai đoạn bọ gậy IV, râu bọ gậy có hình dạng cong vào phía giữa và không có gai nhỏ.
Bảng 3.Kích thước (chiều dài và chiều rộng) của các cơ quan bọ gậy khác nhau và sự tăng số lượng gai lược và răng lược ở Ae. aegypti
Cơ quan | Thông số | Giai đoạn bọ gậy | |||
|---|---|---|---|---|---|
I | II | III | IV | ||
Râu | Chiều dài | 0.078a ± 0.011 | 0.116b ± 0.019 | 0.166c ± 0.024 | 0.258d ± 0.045 |
Chổi giữa | Chiều rộng | 0.026a ± 0.005 | 0.056a ± 0.005 | 0.108b ± 0.008 | 0.166b ± 0.005 |
Chổi bên | Chiều dài | 0.081a ± 0.012 | 0.149b ± 0.013 | 0.191c ± 0.008 | 0.274d ± 0.013 |
Ống thở | Chiều dài | 0.217a ± 0.044 | 0.452b ± 0.079 | 0.645c ± 0.048 | 0.792d ± 0.122 |
Chiều rộng | 0.127a ± 0.188 | 0.178b ± 0.038 | 0.277c ± 0.040 | 0.389c ± 0.065 | |
Mang hậu môn | Chiều dài | 0.148a ± 0.161 | 0.222a ± 0.049 | 0.389b ± 0.055 | 0.649c ± 0.047 |
Chiều rộng | 0.021a ± 0.010 | 0.042a ± 0.011 | 0.076b ± 0.016 | 0.135c ± 0.031 | |
Gai lược | Số lượng | 4.4a ± 0.50 | 9.05b ± 0.94 | 9.8b ± 0.62 | 10.6c ± 0.94 |
Chiều dài | 0.012a ± 0.003 | 0.018b ± 0.004 | 0.036c ± 0.03 | 0.132d ± 0.19 | |
Răng lược | Số lượng | 4.68a ± 0.58 | 10.79b ± 1.13 | 14.11b ± 1.29 | 19.42c ± 3.11 |
Chiều dài | 0.011a ± 0.004 | 0.015a ± 0.005 | 0.021b ± 0.008 | 0.061c ± 0.07 | |
a, b, c, d – biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) giữa các giai đoạn bọ gậy khác nhau trong cùng một hàng, đối với từng thông số cụ thể | |||||
Hình 4.Biểu đồ thể hiện chiều dài của râu và chổi miệng của bọ gậy Ae. aegypti
2.1.5. Mắt kép
Ở bọ gậy Ae. aegypti, mắt kép (Hình 6 và 7) nằm rõ rệt ở hai bên bên đầu, phía dưới râu. Kích thước của mắt kép tăng về chiều rộng từ 0,014 mm đến 0,053 mm từ giai đoạn bọ gậy I đến IV (Bảng 4). Vị trí của mắt trên đầu trong quá trình phát triển bọ gậy được ghi nhận là dịch chuyển về phía trước và bên (trước-bên ngoài). Sự dịch chuyển này được đo bằng cách xác định góc định hướng của mắt bọ gậy so với đường giữa của bao đầu, và góc này thay đổi từ 74,83º xuống còn 61,5º từ giai đoạn bọ gậy I đến IV (Bảng 4). Khoảng cách tương đối giữa mắt bọ gậy và đường giữa của bao đầu cũng được đo ở các giai đoạn khác nhau và cho thấy tăng từ 0,08 mm lên đến 0,349 mm từ giai đoạn I đến IV.

Hình 5.Râu của bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV) phóng đại 108 lần
Bảng 4.Vị trí (góc định hướng và khoảng cách đến đường giữa của đầu) và chiều rộng của mắt kép trong bao đầu của bọ gậy Ae. aegypti
Thông số | Giai đoạn bọ gậy | |||
I | II | III | IV | |
Góc định hướng của mắt kép (°) | 74.83a ± 1.37 | 71.25a ± 3.19 | 64.55b ± 2.47 | 61.5b ± 1.66 |
Khoảng cách từ mép mắt đơn đến đường giữa của bao đầu (mm) | 0.08a ± 0.011 | 0.168b ± 0.010 | 0.249c ± 0.047 | 0.349c ± 0.033 |
Chiều rộng của mắt kép (mm) | 0.014a ± 0.005 | 0.0275b ± 0.004 | 0.034c ± 0.005 | 0.053d ± 0.005 |
a, b, c, d – biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) giữa các giai đoạn bọ gậy khác nhau trong cùng một hàng, đối với từng thông số cụ thể
2.1.6. Bộ phận miệng
Mặt lưng – Chổi giữa: Ở đầu bọ gậy, chổi giữa (Hình 6, 7 và 8) mọc ra từ vùng tiền mũi – môi trên. Kích thước của chổi giữa tăng lên trong quá trình phát triển của bọ gậy. Chiều rộng của nó (Bảng 3) tăng từ 0,026 mm lên 0,166 mm từ giai đoạn bọ gậy I đến IV. Ở mặt bụng, chổi giữa liên tục với thùy sau chổi giữa.
Mặt lưng – Chổi bên (Chổi miệng): Ở mép trước – bên của đầu bọ gậy, tồn tại một cặp chổi bên (Hình 6, 7 và 8) giúp bắt giữ các hạt thức ăn. Chúng mọc ra từ vùng tiền mũi/ môi trên. Từ giai đoạn bọ gậy I đến IV, chiều dài của chổi bên tăng đáng kể từ 0,081 mm lên 0,274 mm (Bảng 3 & Hình 4).
Mặt bụng – Môi dưới: Trên đầu bọ gậy, môi dưới nằm ở vị trí giữa, có hình dạng cong vòm. Dưới cấu trúc cong vòm này có một mảnh cứng tâm thần có răng. Ở hai bên môi dưới là vùng hạ khẩu (Hình 7).
Mặt bụng – Hàm dưới và Hàm trên phụ: Các lỗ nhỏ nhằm tạo khớp nối giữa hàm dưới và hàm trên được tìm thấy ở hai bên của môi dưới. Tại khu vực khớp nối giữa hàm dưới và hàm trên, có một cặp cấu trúc dạng gai đơn giản giống như cựa, gọi là mỏm phụ dưới hàm (Hình 7).

Hình 6.Mặt lưng của đầu bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 108 lần
(Pal – Chổi giữa, Mo Br – Chổi miệng, Ant – Râu, Ey – Mắt, Nk – Cổ)

Hình 7.Mặt bụng của đầu bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 108 lần
[Pal – Chổi giữa, MoBr – Chổi miệng, Ant – Râu, Mdo – Lỗ khớp của hàm dưới và hàm trên phụ, Ms – Mảnh cứng tâm thần, Ey – Mắt, Hy – Vùng hạ khẩu, La – Môi dưới, Cr Co – Vòng cổ (cổ cứng)]

Hình 8.Chổi bên của bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 108 lần
2.2. Cổ
Ở bọ gậy Ae. aegypti, một phần cổ hẹp, hình trụ và có màng (Hình 6 và 7) nối giữa đầu và ngực. Chiều dài của cổ bọ gậy tăng từ 0,064 mm lên 0,108 mm (Bảng 2, Hình 3), và chiều rộng tăng từ 0,096 mm lên 0,464 mm (Bảng 1, Hình 2) từ giai đoạn bọ gậy I đến IV tương ứng. Phần trên của cổ được bao quanh bởi một vòng cổ.
2.3.Ngực

Hình 9.Ngực của bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 108 lần
(Pro – Ngực trước, Meso – Ngực giữa, Meta – Ngực sau)
Ở bọ gậy Ae. aegypti, phần ngực (Hình 9) có dạng hình cầu và bao gồm ba đốt: ngực trước, ngực giữa và ngực sau. Tại vùng ngực giữa và ngực sau, có thể quan sát thấy một cặp mấu lớn dạng gai ở mặt lưng. Các lông bên mọc ra từ hai bên của các đốt ngực trước, giữa và sau. Sự gia tăng kích thước của ngực trong quá trình phát triển bọ gậy — tức là chiều dài và chiều rộng của ngực (Bảng 1 và 2; Hình 2 và 3) — cho thấy chiều rộng ngực lớn hơn chiều dài trước-sau của nó. Kích thước ngực tăng đáng kể trong quá trình phát triển từ giai đoạn bọ gậy I đến IV, với chiều dài tăng từ 0,222 mm lên 1,107 mm và chiều rộng từ 0,248 mm lên 1,401 mm.
2.4.Bụng
Bụng của bọ gậy Ae. aegypti gồm 8 đốt, dài, hình trụ và dẹt theo mặt lưng–bụng (Hình 10). Sau mỗi lần lột xác, bụng trở nên trong suốt hơn. Các chùm lông bên mọc ra từ các đốt bụng, và số lượng lông ở mỗi đốt thay đổi khác nhau. Kích thước của bụng tăng đáng kể trong quá trình phát triển từ giai đoạn bọ gậy I đến IV — cụ thể, chiều dài và chiều rộng của bụng tăng từ 1,199 mm lên 5,119 mm và từ 0,152 mm lên 0,858 mm tương ứng (Bảng 1 và 2, Hình 2 và 3).

Hình 10.Bụng của bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 22 lần
Đốt bụng thứ VIII của bọ gậy Ae. aegypti có một hàng các gai lược (Hình 11). Số lượng gai lược tăng dần theo sự phát triển của bọ gậy (Bảng 3, Hình 15), từ 4,4 ở giai đoạn I lên đến 10,6 ở giai đoạn IV. Các gai lược được sắp xếp thành một hàng, trong đó gai ở giữa nằm gần ống thở, còn các gai bên được sắp xếp ngược về phía sau theo kiểu hình bán nguyệt. Mỗi gai lược có đầu nhọn và cong, với các răng nhỏ ở đỉnh và dưới đỉnh. Kích thước trung bình của gai lược tăng về chiều dài từ 0,012 mm lên 0,132 mm trong quá trình phát triển từ giai đoạn I đến IV (Bảng 3, Hình 16). Sự xuất hiện lặp lại của số lượng gai lược trong các mẫu thuộc cùng một giai đoạn (mode) đã được ước tính bằng phương pháp thống kê. Ở giai đoạn I, mode là 4, còn ở giai đoạn II đến IV là 10.
2.5. Ống thở
Bụng bọ gậy Ae. aegypti có một ống thở (Hình 11, 12, 13 và 14). Ở đầu ống thở có một lỗ thở – gọi là khí khổng, được bao quanh bởi các thùy quanh khí khổng.
Ở bọ gậy mới nở, ống thở còn mềm, nhưng ở các giai đoạn sau đó, ống thở trở nên sẫm màu và cứng hơn. Bên trong ống thở, thân khí quản và các bó sợi cơ có thể quan sát được. Kích thước của ống thở tăng lên trong quá trình phát triển từ giai đoạn bọ gậy I đến IV, với chiều dài từ 0,217 mm đến 0,792 mm và chiều rộng từ 0,127 mm đến 0,389 mm. Tỷ lệ chiều dài trên chiều rộng của ống thở cho thấy chiều dài của ống thở gần bằng gấp đôi chiều rộng của nó (Bảng 3, Hình 17 và Hình 18).

Hình 11.Gai lược của bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 196 lần.

Hình 12.Ống thở của bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 108 lần.
,%20phóng%20đại%20196%20lần.jpg)
Hình 13.Mai hậu môn của bọ gậy Ae. aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 108 lần.
Ống thở mang một hàng răng lược ở cả hai bên bên ngoài (Hình 11, 12, 13 và 14) và có các gai nhỏ ở chân răng. Các răng lược được sắp xếp thành một hàng hướng về phía khí khổng. Các gai gần khí khổng có kích thước dài hơn, trong khi các gai xa hơn thì nhỏ hơn. Số lượng răng lược tăng đáng kể qua các giai đoạn bọ gậytừ 4,68 ở giai đoạn I lên 19,42 ở giai đoạn IV (Bảng 3, Hình 15). Các gai nhỏ trên răng lược có kích thước thay đổi tùy theo từng giai đoạn bọ gậy. Kích thước trung bình của răng lược tăng về chiều dài từ 0,011 mm lên 0,061 mm từ giai đoạn I đến IV (Bảng 3, Hình 16).
,%20phóng%20đại%20196%20lần.jpg)
Hình 14.Ống thở của bọ gậy Ae.aegypti (giai đoạn I–IV), phóng đại 196 lần
Hình 15.Số lượng gai lược và răng lược của bọ gậy Ae. aegypti.
Hình 16.Chiều dài của gai lược và răng lược của bọ gậy
Hình 17.Biểu đồ thể hiện chiều dài của ống thở và mang hậu môn của Ae. aegypti
3.6. Maihậu môn
Ở phần cuối cùng của bụng bọ gậy Ae. aegypti là mai hậu môn (bánh lái). Mang này có bàn chải bụng với 5 cặp lông gai kích thước khác nhau và bốn mang có kích thước bằng nhau. Các mang hậu môn trong suốt và có hình dạng giống thuyền. Mang có yên không hoàn chỉnh.
Chúng phát triển về kích thước qua từng giai đoạn trong quá trình phát triển bọ gậy. Kích thước của mang hậu môn tăng về chiều dài từ 0,148 mm lên 0,649 mm và chiều rộng từ 0,021 mm lên 0,135 mm từ giai đoạn I đến IV (Bảng 3, Hình 17 và Hình 18). Sự phát triển đáng kể của mang hậu môn được quan sát thấy rõ ở các giai đoạn III và IV.
Hình 18.Biểu đồ thể hiện chiều rộng của ống thở và mai hậu môn của Ae. aegypti.
ThS.Phạm Nguyễn Thúy Vy,CN.Nguyễn Hoàng Minh Anh, CN. NguyễnThị Mỹ Duyên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Schaper S, Hernandez-Chavarria F. Scanning electron microscopy of the four larval giai đoạns of the Dengue fever vector A. aegypti. (Diptera: Culicidae) Rev Biol Trop. 2006;54(3):847-52.
Choudhury SR, et al. Invasion of Aedes albopictus(Skuse) in urban areas of Calcutta. Proceedings of the Second Symposium on Vectors & Vector Borne Diseases, 1997;155-59.
Clark-Gil S, Darsie RFJr. The Mosquitoes of Guatemala. Their identification and binomics with keys to adult females and larvae. Mosq Syst. 1983;15(3):151-284. Spanish.
Barraud PJ. The Fauna Of British India Diptera, vol. V: Taylor and Francis, London; 1934.
Snodgrass RE. The anatomical life of the mosquito. The Smithsonian Institute: Washington; 1959.
Clements AN. The physiology of Mosquitoes. Pergamon Press, London; 1963.
Christophers SR. Ae. aegypti(L.) The yellow fever mosquito. Its life history, bionomics and structure. Cambridge University Press; 1960.
Klingenberg CP, Zimmermann M. Dyar's rule and multivariate allometric growth in nine species of waterstriders (Heteroptera: Gerridae). J Zool. 1992;227(3):453-64.
Mohammadi D, Abad RFP, Rashidi MR, Mohammadi SA. Study of Cotton Bollworm, Helicoverpa armigeraHubner (Lepidoptera, Noctuidae) using Dyar's Rule. Mun Ent Zool. 2010;5(1):216-24.
Ghafoor MSM. Determination of Larval Giai đoạns of Black Cutworm Agrotis ipsilon
(Hufnagel) (Lepidoptera, Noctuidae). Jordan J Biol Sci. 2011;4(3):173-76.
Clark TM, Flis BJ, Remold SK. Differences in the effects of salinity on larval growth and developmental programs of a freshwater and a euryhaline mosquito species (Insecta: Diptera, Culicidae). J Exp Biol. 2004;207(13):2289-95.
Mattingly PF. Genetical Aspects of the Ae. aegyptiproblem. I. – Taxonomy and bionomics. Ann Trop Med Parasit. 1957;51(4):392-408.
Huang YM. The subgenus Stegomyiaof Aedesin the oriental region with keys to the species (Diptera: Culicidae). Contrib. Amer. Ent. Inst. American Entomological Institute, USA; 1979:15(6).
Bar A, Andrew J. Seasonal Prevalence of Ae. aegyptiLarvae in Agra. Res Zool. 2012;2(3):15-18.
White RH. Analysis of the development of the compound eye in the mosquito, A aegypti. J Exp Zool. 1961;148(3):223-39.
Abdel-Malek A, Goulding RI. A study of the rate of growth of two sclerotized regions within larvae of four species of mosquitoes. Ohio J Sci. 1948;48(3):119-28.
LaCasse WJ, Yamaguti S. Mosquito Fauna of Japan and Korea. Off. of Surgeon, Hq. 8th U.S. Army, Kyoto, Honshu, Japan; 1955.
Ribeiro H, Ramos HC. Identification keys of the mosquitoes (Diptera: Culicidae) of Continental Portugal, Acores and Madeira. Eur Mosq Bull. 1999;3:1-11.
Wood RJ, Dalingwater JE. Changes in comb spine number during larval development in Ae. aegypti(L.). Mosq News. 1975;35(4):555-60.
Macgregor ME. Mosquito surveys. A handbook for anti-malarial and anti-mosquito field workers. The welcome bureau of scientific research: London;1927.
TIN KHÁC
Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP.HCM: Đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua tập huấn ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý và chuyên môn
Khai giảng lớp Kỹ năng phòng chống côn trùng Khóa 23 - Năm 2025: “Nâng cao kiến thức & kỹ năng ứng phó với mối nguy từ côn trùng”
Triển khai đánh giá hiệu quả phòng chống sốt xuất huyết tại An Giang
Triển khai hoạt động chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao kiến thức về công tác “Giám sát véc tơ chân đốt y học và biện pháp phòng chống véc tơ chân đốt y học” tại TP. Cần Thơ
ONE HEALTH, MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI, ĐỘNG VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG
Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Sốt rét – KST – CT TP. HCM (18/01/1977 – 18/01/2017) & Đón nhận Huân chương Lao động hạng I
13/01/2017Lớp tập huấn đánh giá kết quả phòng chống sốt rét giai đoạn 2011 - 2015
26/10/2015Thông báo tuyển sinh khóa 45 năm 2015
23/10/2015Công đoàn Viện Sốt rét - KST - CT TP. HCM tổ chức tham quan du lịch
19/10/2015