Các bệnh truyền nhiễm mới nổi ở các khu vực châu Âu và lây truyền ra toàn cầu

04:47 SA @ Thứ Hai - 18 tháng 8, 2025

Biến đổi khí hậu và quản lý môi trường cảnh quan, giao thông, vận chuyển hàng hóa, động vật và mật độ dân số trên thế giới ngày càng tăng đây là những yếu tố góp phần vào sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người. Khí hậu, vệ sinh môi trường cảnh quan và kinh tế xã hội là các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm truyền bệnh từ động vật sang người thông qua các véc tơ truyền và khả năng việc giảm thiểu tác động của các bệnh truyền nhiễm được thảo luận trong bài viết này:

Các bệnh truyền nhiễm mới nổi lây truyền trong phạm vi rộng với tần suất xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt ở các khu vực châu Âu. Trong khi một số bệnh truyền bệnh và véc tơ truyền bệnh tương tự có nguồn gốc tại châu Âu (ví dụ: bệnh Lyme), nhưng có một số bệnh truyền nhiễm khác lại từ nước khác du nhập vào châu Âu phát tán, lây lan từ các vùng nhiệt đới (ví dụ: sốt chikungunya hoặc sốt xuất huyết). Do đó, những bệnh truyền nhiễm mới nổi này có thể là mối đe dọa nghiêm trọng trong tương lai gần và việc hiểu rõ hơn về cơ chế lây lan, cơ chế sinh bệnh và phương pháp điều trị thích hợp là rất quan trọng.

Các bệnh truyền nhiễm lây truyền giữa động vật sang người và giữa người với người đã có từ lâu (trên 60% nhiễm bệnh ở người, nguyên nhân là lây từ động vật sang người) [1]. Các bệnh truyền nhiễm lây truyền từ động vật sang người là quá trình phức tạp phụ thuộc vào sự tiến hóa, chọn lọc và tác động qua lại giữa mầm bệnh và vật chủ trung gian. Ngoài ra, sự phát triển của các vật chủ trung gian truyền bệnh lây truyền mạnh từ động vật sang người chịu ảnh hưởng bởi môi trường, sinh thái và sự lưu hành, phân bố thông qua các véc tơ truyền bệnh. Hơn nữa, các véc tơ truyền bệnh truyền nhiễm thông thường không chỉ phụ thuộc vào một vật chủ trung gian duy nhất, mà các véc tơ truyền bệnh lây truyền từ nhiều vật chủ trung gian hoặc nhiều vật chứa khác mang mần bệnh. Điều này càng cảng trở sự nỗ lực, quyết tâm, dự đoán tương lai khó khăn hơn và việc loại bỏ chúng càng trở lên phức tạp hơn [2]. Các đặc điểm các véc tơ truyền bệnh chủ yếu sẽ ảnh hưởng đáng kể bởi các điều kiện môi trường, cảnh quan.

Theo Mô hình Bộ ba Một sức khỏe (The One Health Triad), là cách tiếp cận sức khỏe con người có mối quan hệ chặt chẽ giữa sức khỏe của con người, động vật và môi trường [3].

Biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người dẫn đến sự thay đổi điều kiện môi trường và gián tiếp ảnh hưởng đến sự lây truyền bệnh từ động vật sang người. Các vật trung gian truyền bệnh là động vật chân đốt (muỗi, ve, bọ chét, hoặc các loại con trùng khác), chúng thường rất nhạy cảm với những thay đổi điều kiện môi trường và ảnh hưởng đến sự lây truyền bệnh. Vì các vật trung gian truyền bệnh là động vật biến nhiệt, nên chúng bị ảnh hưởng mạnh khi thay đổi nhiệt độ của môi trường [4, 5].

Nhiệt độ cao hơn sẽ tạo điều kiện cho ve và muỗi phát triển, khả năng sống sót của chúng [6-9]. Ngoài ra, nhiệt độ càng tăng sẽ thúc đẩy nhanh quá trình phát triển mầm bệnh và cơ hộ phát triển sự lây truyền bệnh [10]. Vấn đề này, có mối tương quan đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm, truyền từ động vật sang người. Hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như lũ lụt, bão, thường ảnh hưởng đến mật độ vật trung gian truyền bệnh [9]. Nông nghiệp và công nghiệp thâm canh, chăn thả quá mức, làm khô đất ngập nước và nạn phá rừng dẫn đến những biến đổi cảnh quan, môi trường. Những thay đổi trong thảm thực vật và quản lý môi trường, nước có thể ảnh hưởng cục bộ đến lượng mưa và nhiệt độ, dẫn đến những thay đổi môi trường hệ sinh thái. Điều này, ảnh hưởng đến quần thể thực vật và động vật và ảnh hưởng đến sự phân bố của vật chủ trung gian truyền bệnh và bệnh tật [12, 13].

Một số hoạt động của con người có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát tán mầm bệnh tại địa phương. Tỷ lệ tiếp xúc giữa mầm bệnh, vật trung gian truyền bệnh và con người phụ thuộc vào mật độ nhân khẩu và chúng ta sinh hoạt và giữ gìn môi trường cảnh quan ở địa phương đó và mầm bệnh và vật trung gian truyền bệnh đang gia tăng do gia tăng dân số toàn cầu [8, 14 -16]. Thương mại toàn cầu và du lịch giá rẻ tạo điều kiện cho sự lây lan, phát tán bệnh tật trên phạm vi rộng thông qua việc vận chuyển động vật hoặc con người bị nhiễm bệnh truyền bệnh hoặc bằng cách vận chuyển vật trung gian truyền bệnh cùng với sự vận chuyển hàng hóa nông nghiệp [17].

Sự phân bố và dịch tễ học của các bệnh thông qua véc tơ truyền bệnh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi điều kiện môi trường mà còn chịu ảnh hưởng bởi tình trạng kinh tế xã hội trong khu vực. Tình hình này rất đáng báo động ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp với khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, vì điều kiện môi trường sống thích hợp cho một số véc tơ truyền bệnh đe dọa tính mạng, nhất là bệnh sốt rét hoặc sốt xuất huyết. Dân số ngày càng đông, con người thường xuyên tiếp xúc với vật nuôi và động vật hoang dã. Sức khỏe của con người yếu phản ánh điều kiện sống kém có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm bệnh cao [18 ,19].

Hệ thống chăm sóc sức khỏe con người không đạt yêu cầu, các chương trình phòng ngừa và tiêm chủng không thể tiếp cận được với phần lớn người dân ở những khu vực này. Các chương trình phòng ngừa muỗi và ruồi cát chỉ giúp làm giảm mật độ của chúng, nhưng không đáng kể [20]. Những yếu tố trên làm tăng sự lây truyền nhanh chóng của các bệnh nhiễm trùng từ động vật sang người và làm tăng số lượng các đợt bùng phát các dịch bệnh [21, 22].

Sự phân bố của các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người có liên quan chặt chẽ đến sự phân bố và mở rộng của các véc tơ truyền bệnh. Muỗi và ruồi cát là vật trung gian truyền bệnh phổ biến nhất ở các vùng nhiệt đới, trong khi ở châu Âu, chúng chỉ đóng vai trò là vật trung gian truyền bệnh với số lượng hạn chế tại các vùng có nhiệt độ cao hơn [23]. Tuy nhiên, các bệnh truyền nhiễm lây truyền từ động vật sang người, ban đầu thường có ở vùng nhiệt đới nhưng do khí hậu ngày càng tăng lên và sự phân bố, mở rộng của muỗi về phía bắc càng nhiều, nên gần đây cũng đã xuất hiện nhiều ở châu Âu [24]. Ngoài ra, việc vận chuyển động vật quá mức và sự di cư của con người và sự lây truyền qua véc tơ truyền là nguyên nhân gây ra các đợt bùng phát lẻ tẻ của các bệnh truyền nhiễm không phải nguồn gốc bùng phát bệnh từ chỉ ở địa phương (ví dụ: trường hợp bùng phát sốt rét ở Hy Lạp vào năm 2009-2012 [25, 26]).

Ở Châu Âu, các bệnh truyền nhiễm lây truyền từ động vật do ve truyền là chủ yếu và tỷ lệ mắc bệnh tăng trong thập kỷ qua [27, 28]. Mật độ ve tăng lên là do những thay đổi môi trường, khí hậu, những hoạt động của con người và cách quản lý cảnh quan và hiện nay chung ta có thể được tìm thấy ve ở vĩ độ cao lớn hơn [27, 29, 30]. Việc điều chỉnh mật độ ve là một nhiệm vụ khó khăn; giải pháp liên quan đến việc kiểm soát quần thể các loài sinh vật gây hại và động vật săn bắn, do mật độ ve nhiều trong quần thể, chúng càng thúc đẩy sự lây lan các bệnh truyền nhiễm thông qua ve truyền [27].

Các phong tục truyền thống văn hóa (như hái nấm, săn bắn,…) và các hoạt động giải trí ngoài trời ở Châu Âu là nguyên nhân góp phần tăng tỷ lệ tiếp xúc giữa con người và ve làm tăng khả năng bị nhiễm bệnh [31].

Sự lây truyển mầm bệnh đến các khu vực mới thường do các vật trung gian truyền bệnh. Nếu các quần thể vật chủ trung gian không có lịch sử tiến hóa chung với mầm bệnh và hệ thống miễn dịch của chúng ta kém và chưa thích ứng được, hệ miễn dịch của chúng ta kém bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây bệnh, thì sự truyền nhiễm có thể rất phức tạp, khó khăn và có thể gây ra dịch bệnh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người [32, 33] (như: trường hợp bùng phát sốt ở cùng Tây sông Nile ở bờ biển phía đông Hoa Kỳ năm 1999 [34]). Trong trường hợp nhiễm trùng do vi rút, vi rút tiến hóa nhanh chóng sẽ nhanh chóng có được các đột biến mới, khiến chúng mạnh hơn và quần thể vật chủ non nớt càng dễ bị tấn công mạnh hơn [35].

Các bệnh truyền nhiễm lây từ động vật sang người đang nổi lên và lây lan nhanh chóng ở Châu Âu và trên toàn thế giới được tóm tắt dưới đây cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố và khả năng gây bệnh của chúng.

Bệnh do virút

Nhóm bệnh do vi-rút mới nổi tăng cao bệnh sốt xuất huyết, chikungunya và bệnh Zika, lây truyền qua muỗi thuộc chi Aedes - A. albopictus và A. aegypti. Sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người này có cách lây truyền tương tự nhau và đặc biệt liên quan đến nơi sinh sản của muỗi Aedes và liên quan đến nhiệt độ nóng lên của môi trường, khí hậu và sự xâm nhập của chúng [36, 37]. Sự phân bố của A. albopictus ở Châu Âu đang lan rộng về phía bắc, gần đây người ta không chỉ phát hiện thấy nó ở Nam Âu mà còn phát hiện ở Bỉ, Hà Lan và Vương quốc Anh [17, 26, 38, 39]. Ngoài ra, A. eagypti gần đây đã tái bùng phát ở Châu Âu [26, 38]. Bên cạnh sự phân bố của véc tơ, còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh, chẳng hạn như nhiệt độ bên ngoài; ngưỡng nhiệt độ để vi rút nhân lên thường tương đối cao [17].

Vi rút Zika gây sốt, không nguy hiểm cho người bị nhiễm, tuy nhiên, ở phụ nữ mang thai, nó có thể gây ra chứng đầu nhỏ ở thai nhi. Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Châu Phi vào năm 1947, sau đó là ở Châu Á. Gần đây, phần lớn các trường hợp được báo cáo từ các đảo Thái Bình Dương và Nam, Trung Mỹ [40]. Có những lo ngại rằng, Zika sẽ xuất hiện ở Châu Âu trong tương lai gần vì vi rút này có thể dễ dàng xâm nhập qua đường du lịch, vận chuyển hoặc động vật và do đó, A. aegypti có khả năng lây lan nhanh chóng hoặc thích nghi với A. albopictus [17].

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm thông qua vi-rút do muỗi truyền chủ yếu nhất trên toàn cầu ảnh hưởng đến con người. Loại vi-rút flavivirus này lây nhiễm cho gần 400 triệu người mỗi năm và đã được báo cáo ở trên 125 quốc gia, chủ yếu là các quốc gia nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới [41, 42]. Mặc dù các đợt bùng phát sốt xuất huyết đã được báo cáo trong nhiều thế kỷ; trong những thập kỷ gần đây, các báo cáo về dịch sốt xuất huyết đã tăng lên trên toàn thế giới do những thay đổi về lượng mưa và độ ẩm và do sự gia tăng đô thị hóa và du lịch quốc tế [8, 42, 43 ]. Trên thực tế, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sốt xuất huyết là một căn bệnh có số ca mắc tăng cao nhất trong số các bệnh truyền nhiễm trong 20 năm qua [36, 44]. Sốt xuất huyết gây ra sốt cho người được chẩn đoán là bệnh truyền nhiễm phổ biến thứ hai sau sốt rét ở những du khách đến từ các vùng nhiệt đới có thu nhập thấp và trung bình trở về châu Âu [45]. Phát hiện đầu tiên, các trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết tại Pháp và Croatia vào năm 2010 [46, 47]. Năm 2012 - 2013 có đợt bùng phát sốt xuất huyết ở Madeira lên đến 2000 ca bệnh [38, 48]. Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay, dịch sốt xuất huyết bùng phát các đợt dịch sốt xuất huyết nhiều ở phía Nam của châu Âu [17] và tiềm ẩn khả năng bùng phát dịch sốt xuất huyết sẽ tăng lên trong thế kỷ 21 [36]. Việc không có vắc-xin và thiếu biện pháp phòng và giám soát chặt chẽ véc-tơ truyền bệnh một cách đồng bộ khiến bệnh sốt xuất huyết trở thành mối lo ngại, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới [42, 49, 50].

Chikungunya là một loại vi rút RNA thuộc chi alphavirus, họ Togaviridae, có cách thức lây lan tương tự như vi rút sốt xuất huyết do chúng được truyền bệnh bởi cùng một loài muỗi Aedes. Sự lây lan của vi rút Chikungunya có liên quan đến nhiệt độ môi trường và việc lây truyền bệnh bằng hình thức như giao thông, vận chuyển hàng hóa [36]. Trong 15 năm qua, vi rút Chikungunya đã gây ra các đợt bùng phát dịch lớn ở Châu Phi, Châu Á, Ấn Độ Dương và gần đây, diễn ra nhiều hơn là ở vùng Caribe và cả phía Bắc Mỹ và phía Nam Mỹ [32, 51, 52]. Ở Châu Âu, vi rút Chikungunya được phát hiện lần đầu tiên trong một đợt bùng phát cục bộ ở Ý vào năm 2007; kể từ đó, các đợt bùng phát dịch bệnh Chikungunya đã diễn ra nhiều lần ở Ý và Pháp [53] và tình trạng xảy ra ở Châu Âu nói chung đang tăng mạnh [52]. Ngược lại, mới đây vắc – xin sốt xuất huyết đã phát triển vắc-xin và đang được thử nghiệm cho chúng ta đầy kỳ vọng [54, 55].

Sốt xuất huyết Crimean-Congo (CCHF) là một bệnh truyền nhiễm do vi rút thuộc nhóm nairovirus gây ra, là bệnh truyền nhiễm, lây lan chủ yếu qua ve truyền bệnh vi rút sang người lan rộng trên toàn cầu [56]. Bệnh lây lan qua ve thuộc chi Hyalomma.

Trong khi nhiều năm nay, sốt xuất huyết Crimean-Congo (CCHF) là bệnh xuất hiện đặc hữu (loài Đặc hữu có nghĩa là loài sinh vật chỉ tồn tại, phát triển trong phạm vi phân bố hẹp và giới hạn trong một vùng lãnh thổ nhất định) ở Balkan và các nước Đông Âu khác, thì sự xuất hiện bệnh CCHF ở các nước còn lại của Châu Âu hiện lại đang lan rộngg, cụ thể gần đây, bệnh được phát hiện ở Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Đức [35, 56]. Ngoài các khu vực đã phân bố và lưu hành căn bệnh này thì bệnh này cũng có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi đâu lây truyền thông qua con đường du lịch, nhập khẩu và nó đã được ghi nhận ở Pháp [57] và Anh [58]. Sự lây lan của CCHF có liên quan đến việc bỏ hoang đất canh tác, trồng trọt, thảm thực vật thứ cấp và cũng liên quan đến việc khí hậu nóng lên, lượng mưa và độ ẩm là những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của quần thể ve [6, 59, 60]. Mối đe dọa của bệnh CCHF gây ra dịch bệnh mạnh và lây truyền cao giữa những người tiếp xúc gần và các nhân viên y tế [35, 56]. Vì bệnh này có thể gây ra tỷ lệ tử vong cao (10-40%) [35, 56], CCHF được coi là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Châu Âu [35]. Mặc dù, vắc-xin đang được nghiên cứu và phát triển mạnh [61], tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có vắc-xin nào được cấp phép.

Bệnh sốt Tây sông Nile (WNF) do một loại vi-rút flavivirus lây truyền qua muỗi thuộc chi Culex gây ra. WNF là bệnh đặc hữu ở nhiều vùng rộng lớn của Châu Phi, Nam Á, Trung Đông và ở những vùng có nhiệt đọ cao hơn của Châu Âu, chẳng hạn như Pháp, Hy Lạp, Romania và Ý [62, 63]. Vật chủ trung gian truyền bệnh chính là các loài chim hoang dã di cư. Do chu kỳ lây truyền qua chim, WNF có thể lây lan rất nhanh trong khoảng cách xa [64]. Thời gian dài qua, đặc trưng bệnh WNF được coi như là một trong các bệnh truyền nhiễm lãng quên Thế giới, nhưng vào năm 1999, khả năng lây truyền cao, nó đã xuất hiện lần đầu tiên ở bán cầu tây - tại bờ biển đông bắc của Hoa Kỳ [65]. Khả năng lây lan mạnh đã được ghi nhận khi bệnh WNF được phát hiện trong 2 năm sau đó ở Canada [66] và Mexico [67]. Ở Châu Âu, số lượng các đợt bùng phát WNF ngày càng tăng đã được chứng minh trong 20 năm qua [68] và đợt bùng phát gần đây nhất được ghi nhận vào năm 2018 ở miền Nam và miền Trung Châu Âu [69]. Điều này có thể được giải thích là do mùa hè nóng và mùa đông ôn hòa, tạo điều kiện cho muỗi phát triển, muỗi Culex nhạy cảm với nhiệt độ và tốc độ sao chép cao của flavivirus [10, 70, 71]. Ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhiệt độ môi trường, đối với quá trình truyền bệnh WNF đã được xác nhận rõ ràng bởi các đợt bùng phát WNF và lây lan sang các khu vực, những năm trước đây không ghi nhận do ảnh hưởng nhiệt độ cao bất thường [10, 72]. Người ta đã xác nhận rằng sự phân bố của véc tơ WNF chủ yếu ở Châu Âu, Culex molestus đã lan rộng về phía bắc [73]. Có nhiều loại vắc-xin có khả năng phòng ngừa bệnh WNF ở người và vẫn còn thiếu vắc-xin đủ hiệu quả mà không có bất kỳ tác dụng phụ nào [49].

Bệnh do vi khuẩn

Bệnh xoắn khuẩn Lyme (LD) thuộc chi Borrelia gây ra là bệnh do ve truyền bệnh phổ biến nhất ở vùng ôn đới [27]. Hàng năm, báo cáo ghi nhận khoảng 85.000 mắc bệnh ở Châu Âu [74] và khoảng 35.000 ở Hoa Kỳ [75].

Tuy nhiên, các trường hợp mắc bệnh xoán khuẩn Lyme (LD) phần lớn ít được qua tâm (do đánh giá thấp mức độ gây nghiêm trọng của nó) và hầu hết các trường hợp nhiễm LD vẫn chưa được chẩn đoán kịp thời [74]. Mặc dù phần lớn các trường hợp mắc bệnh có triệu chứng nhẹ, nhưng nếu không được điều trị đúng cách, bệnh LD có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe nghiêm trọng làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của con người. Tỷ lệ mắc bệnh LD gia tăng trong những thập kỷ qua ở châu Âu và các khu vực nhiễm LD đã và đang lan rộng về phía bắc và tỷ lệ mắc cũng đang gia tăng ở Fennoscandia và Vương quốc Anh [27]. Bệnh LD phân bố và lan rộng và ảnh hưởng đến các vùng lân cận và làm thay đổi về số lượng ve thuộc chi Ixodes. Sự phát triển của ve thuộc chi Ixodes chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khí hậu, các biện pháp quản lý nông nghiệp và sự thay đổi về thảm thực vật [76, 77]. Tỷ lệ mắc LD ngày càng tăng ở châu Âu là do người dân khi rảnh rỗi thường hay hoạt động ngoài trời làm lây lan, phát tán rộng bệnh LD [78]. Có sự khác biệt lớn về tỷ lệ mắc LD giữa các khu vực Châu Âu, nguyên nhân lây truyền bệnh chủ yếu của con người qua ve là do các tập tục truyền thống của con người khi tổ chức các hoạt động như săn bắn hoặc hái quả mọng và làm việc trong rừng làm tăng mức độ tiếp xúc của bệnh. Hiện tại, vẫn không có vắc-xin phòng bệnh LD hiệu quả. Mới đây, các nhà khoa học đang nghiên cứu và kỳ vọng về vắc-xin OspA, tuy nhiên hiệu quả và tác dụng phụ của chúng cần được nghiên cứu sâu hơn [79, 80].

Bộ vi khuẩn Rickettsiales gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng (như sốt phát ban, sốt mò, sốt đốm) chúng được truyền qua côn trùng như ve, bọ chét và chấy rận. Khả năng lây lan, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của người mắc vi khuẩn Rickettsiales cao. Sốt phát ban do vi khuẩn Rickettsia prowazekii gây ra được phân loại thuộc nhóm B trong danh sách các tác nhân gây bệnh nguy hiểm đến con người [81]. Bệnh rickettsia xảy ra phổ biến nhất ở Châu Âu là bệnh gây ra sốt phát ban tại Địa Trung Hải do vi khuẩn Rickettsia conorii gây ra. Mặc dù, căn bệnh này đã tồn tại ở phía Nam nước Ý trong nhiều năm [82], nhưng gần đây bệnh này mới phát tán mạnh [83]. Bệnh truyền nhiễm này có thể là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người, vì tỷ lệ tử vong của nó là khoảng 32% [84]. Bệnh nhiễm trùng doAnaplasma phagophytophila gây ra cũng đang gia tăng mạnh mẽ và xảy ra trên diện rộng ở Châu Âu [85, 86]. Gần đây, các trường hợp nhiễm bệnh do vi khuẩn rickettsia mới ở người đã được phát hiện ở Châu Âu [82, 87]. Nhìn chung, sự xuất hiện của bệnh rickettsia tăng cao ở các nước Bắc Âu, nơi chưa từng có một báo cáo nào ghi nhận về bệnh Rickettsia [88]. Người ta cho rằng bệnh này xuất hiện ngày càng tăng cao do có liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ [83, 89, 90]. Một số vắc-xin phòng ngừa bệnh rickettsia đã được nghiên cứu và phát triển; tuy nhiên, chúng khó sản xuất, đắt tiền và rủi so [91]. Hiện tại vẫn chưa có vắc-xin nào được phê duyệt [92].

Bệnh tularemia là bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gram âm Francisella tularensis gây ra, đây là một trong những vi khuẩn có độc lực mạnh nhất hiện tại mới được biết đến [93]. Vòng đời của vi khuẩn F. tularensis này diễn ra trong môi trường trên cạn hoặc dưới nước. Vòng đời của vi khuẩn này cũng diễn ra ở các động vật trên cạn, thỏ, động vật gặm nhấm và ve bị nhiễm là nguồn lây nhiễm chính cho con người và tỷ lệ mắc bệnh tularemia liên quan đến những thay đổi độc lực của loài gặm nhấm và các vùng phát tán bệnh của ve [94]. Trong vòng đời của F. tularensis diễn ra dưới nước, nguyên nhân là do nước bị ô nhiễm bởi xác chết và phân của động vật bị nhiễm bệnh [94]. Các đợt bùng phát bệnh tularemia thường xuyên xảy ra có liên quan đến vòng đời dưới nước [94]. Bệnh tularemia có khả năng lây nhiễm cao, có thể dễ dàng lây truyền qua các giọt khí dung, bệnh có tỷ lệ tử vong cao (lên đến 30%), thời gian tồn tại của vi khuẩn này kéo dài ở môi trường bên ngoài và hiện nay vẫn chưa có vắc-xin nào phòng ngừa [93, 95]. Những độc lực sinh học đáng lo ngại của bệnh tularmia này được xem như một loại vũ khí chiến tranh sinh học tiềm tàng và hiện được phân loại là tác nhân truyền nhiễm thuộc loại nhóm A nguy hiểm nhất [81], vi khuẩn F. tularensis đã được sử dụng để sản xuất vũ khí sinh học trong Thế chiến thứ 2, mặc dù việc sử dụng nó chưa bao giờ được báo cáo [94]. Gần đây, bệnh tularemia được phát hiện nhiều ở các loài động vật hoang dã như thỏ, động vật gặm nhấm, động vật ăn thịt, cá và các loài chân đốt không xương sống [93]. Tỷ lệ mắc bệnh tularemia ở người đang tăng mạnh ở các nước Balkan và Thổ Nhĩ Kỳ [96]. Các nước còn lại thuộc các nước châu Âu, tỷ lệ mắc bệnh ở người đã giảm, có thể là do lối sống đô thị hơn (tức là hành vi, ý thức của con người tiến bộ hơn), số lượng người làm việc ngoài trời ở nông thôn giảm và ít tiếp xúc với động vật hoang dã bị nhiễm bệnh [78]. Tuy nhiên, nó có thể dễ dàng lây truyền nhanh chóng và có thể gây ra mối đe dọa đối với những người làm việc trong rừng và đồng ruộng hoặc những người vô gia cư và có thể tạo ra các ổ bệnh bùng phát dịch bệnh [78].

Bệnh do động vật nguyên sinh

Bệnh truyền nhiễm do nhóm động vật nguyên sinh gây ra, chúng có mặt hầu hết ở khắp thế giới đó là bệnh sốt rét. Đây là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng thuộc chi Plasmodium gây ra và bệnh chủ yếu lây qua vết đốt của muỗi Anopheles sp nhiễm ký sinh trùng. Bệnh sốt rét ở người do năm loài ký sinh trùng sốt rét thuộc chi Plasmodium gây ra. Hơn 75% các trường hợp phát hiện bệnh ở người, với tỷ lệ tử vong cao, có thể là do nhiễm P. falciparum và khoảng 20% các trường hợp là do nhiễm P. vivax [97]. Khoảng 214 triệu trường hợp sốt rét xảy ra và mỗi năm có hơn 400.000 người chết vì sốt rét [98]. Bệnh sốt rét có tỷ lệ tử vong cao và chúng tạo áp lực chọn lọc lên hệ miễn dịch và khả năng chống lại bệnh tật lên con người, thực tế chúng đã được chứng minh về sự thích nghi lâu dài trên người (chúng tạo ra căng thẳng, áp lực kéo dài ảnh hưởng hệ miễn dịch, làm giảm khả năng chống lại bệnh tật của con người) [99, 100]. Bệnh sốt rét lây truyền vào các khu vực dân cư, con người chưa kịp thích nghi và hệ thống miễn dịch của con người còn non nớt có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm [101]. Bệnh sốt rét phân bố nhiều ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp đã được báo cáo, ghi nhận bệnh sốt nhiều ở Châu Phi trong nhiều năm [98]. Các dự đoán liên quan đến sự xuất hiện của bệnh sốt rét vẫn còn gây tranh cãi. Theo mô hình cách quản lý cũ về cảnh quang môi trường ở châu Phi thì có thể dự kiến số ca bệnh sẽ gia tăng [102]. Mặt khác, theo báo cáo gần đây của WHO [98], từ năm 2010 đến năm 2015, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét đã giảm xuống 21%, chủ yếu là do các biện pháp giám sát, kiểm soát véc tơ hiệu quả [103]. Ở Châu Âu, bệnh sốt rét đã lưu hành ở Hy Lạp [25]. Nhờ các chương trình phòng ngừa, bệnh sốt rét đã được loại trừ ở một số khu vực của Châu Âu [16] và chỉ phát hiện lẻ tẻ các trường hợp sốt rét không có lịch sử đi lại đến các khu vực có lưu hành bệnh sốt rét [25]. Năm 2015, khu vực châu Âu đã không còn lưu hành bệnh sốt rét; Có 53 quốc gia trong khu vực đã báo cáo ghi nhận có ít nhất 1 năm không có ca mắc bệnh sốt rét nào lưu hành tại địa phương [98]. Tuy nhiên, bệnh truyền nhiễm này vẫn xảy ra liên tục là do ký sinh trùng thuộc chi Plasmodium gây ra bởi véc tơ truyền bệnh qua vết đốt của muỗi Anopheles tại bản địa phát tán, lây truyền các khu vực có điều kiện khí hậu môi trường phù hợp, có thể gây ra các đợt bùng phát sốt rét [16]. Chỉ có một loại vắc-xin phòng ngừa bệnh sốt rét được phê duyệt, nhưng hiệu quả phòng bệnh thấp và đang được tiếp tục cải tiến và đang được thử nghiệm [104].

Bệnh Leishmaniasis là một bệnh truyền nhiễm do động vật nguyên sinh (ký sinh trùng) thuộc chi Leishmania gây ra và lây lan qua vết cắn của ruồi cát, thuộc hai chi chính có ý nghĩa y học lớn là Phlebotomus (Cựu Thế giới – châu Á, châu Phi, châu Âu) và Lutzomyia (Tân Thế giới – châu Mỹ) [105]. Có những khác nhau về trong phân bố khu vực lây truyền bệnh của các vật chủ trung gian truyền bệnh. Chi Phlebotomus ưa thích môi trường sống ở sa mạc và bán sa mạc và các gia súc và các động vật nuôi trong môi trường gần khu dân cư của con người, trong khi chi Lutzomyia thì ưa thích môi trường sống trong rừng [105, 106]. Tỷ lệ mắc bệnh Leshmaniasis là khoảng 1,3 triệu ca và tỷ lệ tử vong là khoảng từ 30.000 – 50.000 ca mỗi năm [107, 108].

Bệnh Leishmaniasis xảy ra ở da, niêm mạc và nội tạng. Leishmaniasis nội tạng (kala-azar) là bệnh nhiễm trùng gây tử vong phổ biến thứ hai trên toàn cầu sau bệnh sốt rét [109]. Sự kết hợp giữa bệnh Leishmaniasis và nhiễm HIV có thể gây nguy hiểm đối với cơ thể người. Sự kết hợp này khá thường xuyên và tần suất đang tăng lên ở Nam Âu - lên đến 70% các trường hợp nhiễm leishmaniasis nội tạng tại địa phương có liên quan đến nhiễm HIV [109]. Leishmaniasis là một căn bệnh nhạy cảm với môi trường khí hậu và ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những thay đổi về lượng mưa, nhiệt độ, thói quen tưới tiêu và nạn phá rừng (vì những yếu tố này ảnh hưởng đến hệ sinh thái của các vật chủ trung gian truyền bệnh là ruồi cát và các vật dụng chứa mầm bệnh) [105]. Tỷ lệ mắc bệnh này ngày càng gia tăng do ảnh hưởng bởi các yếu tố rủi ro về kinh tế, xã hội, ví dụ như nghèo đói, di cư, đô thị hóa và chiến tranh, dẫn đến việc con người tăng khả năng tiếp xúc nhiều hơn với các vật chủ trung gian truyền bệnh [105]. Theo báo cáo của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), bệnh leishmaniasis ở châu Âu không được quan tâm và đánh giá thấp về mức độ nghiệm trọng của bệnh. Người ta cho rằng sự gia tăng bệnh này ở Châu Âu phần lớn là do việc đi lại, thương mại, du lịch quốc tế ngày càng tăng, việc loại bỏ nhiễm bệnh leishmaniasis ở những bệnh nhân nhiễm HIV dương tính rất khó khăn, tình trạng kháng thuốc gia tăng, việc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch cũng khó khăn [105, 110]. Chó cũng là vật chủ chứa bệnh leishmaniasis, việc nhập khẩu chó bị nhiễm bệnh leishmaniasis này vô tình sẽ có thể lây lan bệnh sang các khu vực khác, do đó, việc tiêm phòng cho chó có thể giúp kiểm soát các đợt bùng phát bệnh leishmaniasis [105, 110, 111].

Việc giảm thiểu sự lây lan và tác động của các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người là những vấn đề khó khăn và thách thức đối với nhiều lĩnh vực khoa học. Giải pháp tốt nhất là loại bỏ các nguyên nhân truyền nhiễm và các điều kiện thuận lợi phát triển bệnh. Tuy nhiên, việc đòi hỏi những thay đổi về các yếu tố rủi ro liên quan như kinh tế, xã hội, chính trị và việc thay đổi ý thức, hành vi, là công việc khó khăn và thử thách. Chúng ta có ít sự lựa chọn là chúng ta tác động vào sự thay đổi môi trường, vệ sinh cảnh quan tốt, từ đó ngăn ngừa sự phát tán, lây lan mầm bệnh trong phạm vi hoạt động của véc tơ truyền bệnh. Trên thực tế, chúng ta chủ yếu chỉ có thể giải quyết hậu quả hơn là tìm và loại bỏ nguyên nhân gây ra các bệnh truyền nhiễm. Bên cạnh các biện pháp loại bỏ và ngăn chặn mầm bệnh phát triển, đòi hỏi tiêu chuẩn quá trình quản lý môi trường cảnh quan phải phù hợp trong việc tìm tòi, khám phá, thay thế để đáp ứng nhu cầu về lương thực, nước, không gian và năng lượng.

Đặc biệt là giám sát khả năng lây lan và mật độ véc tơ truyền bệnh. Quan trọng là phải thực hiện việc giám sát chủ động các loài véc tơ truyền bệnh và ngăn chúng không lây lan sang các khu vực mới. Cách tốt nhất và khả thi là hình thành một hệ thống cảnh báo, như: Mạng lưới Môi trường và Dịch tễ học ở châu Âu (E3), hệ thống cảnh báo WNF (ý nghĩa là nếu bạn thấy thông tin này hữu ích hoặc thú vị, vui lòng chia sẻ trên các nền tảng mạng xã hội yêu thích của bạn) này đã được chứng minh thành công trong các đợt bùng phát sốt rét, sốt xuất huyết mới đây [16]. Số lượng ruồi và muỗi có thể giảm bằng cách phun thuốc trừ sâu hóa học, nhưng nó có thể làm xáo trộn đến các mối quan hệ sinh thái trong môi trường, vì véc tơ trung gian truyền bệnh là một phần trong chuỗi móc xích thức ăn phức tạp đó [112, 113].

Gần đây, các véc tơ biến đổi gen phát triển mạnh, chúng mang các biến đổi gen dẫn đến giảm số lượng cá thể muỗi cái lây truyền bệnh (những con muỗi đực bị nhiễm độc sau khi giao phối, sẽ khiến muỗi cái cũng bị nhiễm độc theo). Các con muỗi biến đổi gen (GMO) này khi thả vào môi trường tự nhiên sẽ dẫn đến giảm khả năng lây truyền bệnh của các quần thể đó [114, 115].

Biện pháp can thiệp chủ yếu là phòng ngừa tiêm chủng vắc xin, việc tiêm vắc xin sẽ giúp tăng khả năng phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm do muỗi truyền, đồng thời sẽ làm giảm số lượng véc tơ truyền bệnh. Việc phát triển phương pháp điều trị và thuốc cho các bệnh mới nổi là một thách thức đối với khoa học Y tế và khoa học sinh hóa. Gần đây, đã triển khai, mở rộng phương pháp điều trị các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người, tuy nhiên, vì lý do kinh tế, phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở các nước phát triển. Nhu cầu cấp thiết về việc phát triển các loại thuốc với chi phí thấp và dễ tiếp cận với các quốc gia có thu nhập thấp. Mặc khác, còn đe dọa đến tình trạng kháng thuốc ngày càng cao, do tỷ lệ đột biến của các tác nhân gây bệnh, do chúng ta sử dụng quá nhiều kháng sinh. Điều này bắt buộc phải tìm tòi phát triển hiệu quả thuốc điều trị và đồng thời gây khó khăn đáng kể trong việc thay thế và thử nghiệm các loại thuốc điều trị thế hệ mới [116, 117]. Hiện nay, bệnh truyền nhiễm, truyền từ động vật sang người là vấn đề ngày càng nghiêm trọng, vì chúng không chỉ liên quan đến môi trường mà còn liên quan ảnh hưởng đến sức khỏe con người, xã hội và không có một biện pháp phòng ngừa đơn giản nào về các bệnh lây truyền từ động vật sang người thông qua một vật trung gian truyền bệnh. Việc loại bỏ hoàn toàn các bệnh này rất khó khăn, thậm chí là không thể, vì hình thức lây lan của các bệnh lây truyền từ động vật sang người luôn thay đổi và tồn tại nhiều ở vật chủ trung gian và các vật dụng chứa bệnh tồn tại ở trong môi trường tự nhiên.

Tổng hợp lược dịch: ThS. Cao Thị Hường

Tài liệu tham khảo chính:https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC6493274/

Tài liệu tham khảo liên quan như sau:

[1].Karesh WB, Dobson AD, Loyd-Smith JO, và cộng sự. Sinh thái học của bệnh truyền nhiễm từ động vật: lịch sử tự nhiên và phi tự nhiên. Lancet. 2012;380:1936–1945. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[2].Magori K, Drake JM.. Biến động dân số của các bệnh do véc tơ truyền. Nat Educ Knowledge. 2013;4(4):14. [ Google Scholar ]

[3].Thompson RCA. Bệnh ký sinh trùng lây truyền từ động vật sang người và động vật hoang dã: một sức khỏe, sự lan tỏa và hoạt động của con người. Int J Parasitol. 2013;43(12–13):1079–1088. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[4].Kilpatrick AM, Randolph SE. Các yếu tố thúc đẩy, động lực và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm từ động vật do véc tơ truyền mới nổi. Lancet. 2012;380:1946–1955. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[5].Kramer LD. Độ phức tạp của tương tác virus-vector. Curr Opin Virol. 2016;21:81–86. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[6].Estrada-Pena A, Venzal JM. Các ổ sinh thái khí hậu của các loài ve ở vùng Địa Trung Hải: mô hình hóa dữ liệu về sự xuất hiện, các hạn chế về phân bố và tác động của biến đổi khí hậu. J Med Entomol. 2007;44(6):1130–1138. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[7].Campbell LP, Luther C, Moo-Llanes D, và cộng sự. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự phân bố toàn cầu của các vectơ virus sốt xuất huyết và chikungunya. Philos Trans R Soc Lond B Biol Sci. 2015;370(1665):e20140135. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[8].Andersen LK, Davis MDP. Biến đổi khí hậu và dịch tễ học của một số bệnh do ve và muỗi truyền: cập nhật từ lực lượng đặc nhiệm về biến đổi khí hậu của Hiệp hội Da liễu Quốc tế. Int J Dermatol. 2017;56(3):252–259. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[9].Rossati A. Sự nóng lên toàn cầu và tác động của nó đến sức khỏe. Int J Occup Environ Med. 2017;8(1):7–20. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[10].Reisen WK, Fang Y, Martinez VM. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự lây truyền virus Tây sông Nile ở Culex tarsalis (Diptera: Culicidae). J Med Entomol. 2006;43:309–317. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[11].Ogden NH, Maarouf A, Barker IK, và cộng sự. Biến đổi khí hậu và khả năng mở rộng phạm vi của vectơ bệnh Lyme Ixodes scapularis ở Canada. Int J Parasitol. 2006;36(1):63–70. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[12].Cortinas MR, Guerra MA, Jones CJ, et al. Phát hiện, mô tả đặc điểm và dự đoán các ổ bệnh do ve truyền. Int J Med Microbiol. 2002;291(SI):11–20. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[13].Randolph SE, Rogers DJ. Sự xuất hiện, hình thành và lây lan của các bệnh ngoại lai: mô hình và dự đoán. Nature Rev Microbiol2010. 8:361–371. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[14].Allan BF, Keesing F, Ostfeld RS. Ảnh hưởng của việc chia cắt rừng đến nguy cơ mắc bệnh Lyme. Cons Biol. 2003;17(1):267–272. [ Google Scholar ]

[15].Brownstein JS, Skelly DK, Holford TR, et al. Sự phân mảnh rừng dự đoán tính không đồng nhất ở quy mô cục bộ của nguy cơ mắc bệnh Lyme. Oecologia. 2005;146(3):469–475. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[16].Semenza JC. Nguyên mẫu hệ thống cảnh báo sớm cho các bệnh do véc tơ truyền ở Châu Âu. Int J Environ Res Public Health. 2015;12(6):6333–6351. [ DOI ] [ PMC free article ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[17].Baylis M. Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với các bệnh truyền nhiễm do véc tơ và các bệnh truyền nhiễm khác mới nổi ở Vương quốc Anh. Environ Health. 2017;16:(SI):45–51. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[18].Chandra RK. Dinh dưỡng và hệ miễn dịch: Giới thiệu. Am J Clin Nutr. 1997;66:460S–463S. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[19].Beldomenico PM, Begon M. Sự lây lan của bệnh, khả năng mắc bệnh và cường độ nhiễm trùng: vòng luẩn quẩn? Trends Ecol Evol. 2009;25(1):21–27. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[20].Benelli G, Beier JC. Những thách thức hiện tại trong việc kiểm soát véc tơ trong cuộc chiến chống sốt rét. Acta Trop. 2017;174:91–96. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[21].Jones KE, Patel NG, Levy MA, và cộng sự. Xu hướng toàn cầu về các bệnh truyền nhiễm mới nổi. Nature. 2008;451(7181):990–993. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[22].Bean AGD, Baker ML, Stewart CR, và cộng sự. Nghiên cứu khả năng miễn dịch với các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người ở vật chủ tự nhiên - duy trì khả năng miễn dịch thực sự. Nat Rev Immunol. 2013;13(12):851–861. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[23].Carvalho BM, Rangel EF, Vale MM. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên các tác nhân truyền bệnh thông qua mô hình hóa hốc sinh thái. Bull Entomol Res. 2017;107(4):419–430. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[24].Di Luca M, Toma L, Severini F, và cộng sự. Ghi nhận đầu tiên về loài muỗi xâm lấn Aedes (Stegomyia) albopictus (Diptera: culicidae) trên các đảo Địa Trung Hải cực nam của Ý và châu Âu. Parasit Vectors. 2017;10:e543. [ DOI ] [ PMC free article ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[25].Danis K, Baka A, Lenglet A, et al. Sốt rét Plasmodium vivax bản địa ở Hy Lạp, 2011. Euro Surveill. 2011;16(42):e19993. [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[26].Zitko T, Merdic E. Hoạt động đẻ trứng theo mùa và không gian của Aedes albopictus (Diptera: culicidae) ở Croatia biển Adriatic. J Med Entomol. 2014;51:760–768. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[27].Millins C, Gilbert L, Medlock J, và cộng sự. Ảnh hưởng của việc quản lý bảo tồn cảnh quan và quần thể động vật có xương sống đối với nguy cơ mắc bệnh Lyme ở Vương quốc Anh. Philos Trans R Soc Lond B Biol Sci. 2017;372(1722):e20160123. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[28].Mysterud A, Jore S, Østerås O, và cộng sự. Sự xuất hiện của các bệnh do ve truyền ở vĩ độ phía bắc châu Âu: một phương pháp tiếp cận so sánh. Sci Rep. 2017;7:e16316. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[29].Lindgren E, Talleklint L, Polfeldt T. Tác động của biến đổi khí hậu đến giới hạn vĩ độ phía bắc và mật độ quần thể của loài ve châu Âu truyền bệnh Ixodes ricinus . Environ Health Perspect. 2000;108(2):119–123. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[30].Daniel M, Danielova VV, Kriz B, và cộng sự. Sự dịch chuyển của ve Ixodes ricinus và bệnh viêm não do ve truyền sang vùng cao hơn ở Trung Âu. Eur J Clin Microbiol Infect Dis. 2003;22(5):327–328. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[31].Bệnh Lyme Chomel B.. Rev Sci Tech. 2015;34(2):569–576. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[32].Robinson M, Conan A, Duong V, và cộng sự. Mô hình bùng phát dịch sốt xuất huyết ở vùng nông thôn Campuchia: Ý nghĩa đối với việc kiểm soát dịch bệnh ở những vùng chưa bị nhiễm bệnh. PLoS Negl Trop Dis. 2014;8(9):e3120. [ DOI ] [ PMC free article ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[33].Iverson SA, Gilchrist HG, Soos C, và cộng sự. Lồng ghép dịch tễ học vào phân tích khả năng sống của quần thể: động lực lây truyền bệnh tả gia cầm tại một đàn chim biển Bắc Cực. J Anim Ecol. 2016;85(6):1481–1490. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[34].Roehrig JT. Virus Tây sông Nile ở Hoa Kỳ - Một góc nhìn lịch sử. Virus. 2013;5(12):3088–3108. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[35].Papa A, Tsergouli K, Tsioka K, và cộng sự. Sốt xuất huyết Crimean-Congo: tương tác giữa ve-vật chủ-virus. Front Cell Infect Microbiol. 2017;7:e213. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[36].Liu-Helmersson J, Quam M, Wilder-Smith A, và cộng sự. Biến đổi khí hậu và vectơ Aedes: Dự báo về sự lây truyền sốt xuất huyết ở Châu Âu trong thế kỷ 21. EBioMedicine. 2016;7:267–277. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[37].Petric M, Lalic B, Ducheyne E, và cộng sự. Mô hình hóa tác động khu vực của biến đổi khí hậu đến sự phù hợp của việc thiết lập quần thể muỗi vằn châu Á ( Aedes albopictus ) ở Serbia. Biến đổi khí hậu. 2017;142(3–4):361–374. [ Google Scholar ]

[38].Medlock JM, Hansford KM, Versteirt V, và cộng sự. Tổng quan côn trùng học về muỗi xâm lấn ở Châu Âu. Bull Entomol Res. 2015;105(6):637–663. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[39].Medlock JM, Vaux AGC, Cull B, và cộng sự. Phát hiện loài muỗi xâm lấn Aedes albopictus ở miền nam nước Anh. Lancet Infect Dis. 2017;17(2):140. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[40].Mittal R, Nguyen D, Debs LH, và cộng sự. Virus Zika: mối đe dọa sức khỏe toàn cầu mới nổi. Front Cell Infect Microbiol. 2017;7;486. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[41].Simmons CP, Farrar JJ, Nguyễn VV, và cộng sự. Sốt xuất huyết. N Engl J Med. 2012;366:1423–1432. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[42].Gyawali N, Bradbury RS, Taylor-Robinson AW. Dịch tễ học về nhiễm trùng sốt xuất huyết: tận dụng kinh nghiệm trong quá khứ và kiến thức hiện tại để hỗ trợ việc thực hiện các chiến lược kiểm soát trong tương lai. J Vector Borne Dis. 2016;53(4):293–304. [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[43].Xuân LTT, Hậu PV, Thu DT, và cộng sự. Ước tính biến động khí tượng liên quan đến các ca sốt xuất huyết tại một thành phố ven biển miền Bắc Việt Nam: một nghiên cứu sinh thái. Glob Health Action. 2014;7:(SI):52–58. [ DOI ] [ PMC free article ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[44].Murray CJL, Barber RM, Foreman KJ, và cộng sự. Số năm sống điều chỉnh theo tình trạng khuyết tật (DALY) toàn cầu, khu vực và quốc gia cho 306 bệnh tật và thương tích, và tuổi thọ khỏe mạnh (HALE) cho 188 quốc gia, 1990–2013: định lượng quá trình chuyển đổi dịch tễ học. Lancet. 2015;386(10009):2145–2191. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[45].WHO: Sốt xuất huyết và sốt xuất huyết nặng [Internet] Geneva (Thụy Sĩ): Tổ chức Y tế Thế giới; [cập nhật ngày 13 tháng 9 năm 2018; trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018] Có tại: http://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/dengue-and-severe-dengue . [ Google Scholar ]

[46].La Ruche G, Souares Y, Armengaud A, et al. Hai ca nhiễm virus sốt xuất huyết bản địa đầu tiên ở Pháp, tháng 9 năm 2010. Eurosurveillance. 2010;15(39):e19676. [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[47].Gjenero-Margan I, Aleraj B, Krajcar D, và cộng sự. Sốt xuất huyết nội địa ở Croatia, tháng 8-tháng 9 năm 2010. Eurosurveillance. 2011;16(9):e19805. [ PubMed ] [ Học giả Google ]

[48].ECDC: Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu: Dịch sốt xuất huyết bùng phát tại Madeira, Bồ Đào Nha, tháng 10–tháng 11 năm 2012 [Internet]. Stockholm: Tháng 3 năm 2013 [trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: https://ecdc.europa.eu/sites/portal/files/media/en/publications/Publications/dengue-outbreak-madeira-mission-report-nov-2012.pdf . [ Google Scholar ]

[49].Collins MH, Metz SW. Tiến độ và các công trình đang thực hiện: cập nhật về phát triển vắc-xin flavivirus. Clin Ther. 2017;39(8):1519–1536. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[50].Godoi IP, Lemos LL, de Araújo VE, et al. Vắc-xin sốt xuất huyết CYD-TDV: tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp về hiệu quả, khả năng sinh miễn dịch và tính an toàn. J Comp Eff Res. 2017;6(2):165–180. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[51].Burt FJ, Chen WM, Miner JJ, và cộng sự. Virus Chikungunya: Cập nhật về sinh học và cơ chế bệnh sinh của tác nhân gây bệnh mới nổi này. Lancet Inf Dis. 2017;17(4):107–117. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[52].Wahid B, Ali A, Rafique S, và cộng sự. Sự lây lan toàn cầu của virus Chikungunya: lập bản đồ lịch sử 64 năm. Int J Infect Dis. 2017;58:69–76. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[53].WHO: Chikungunya [Internet].] Geneva (Thụy Sĩ): Tổ chức Y tế Thế giới [trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: http://www.who.int/csr/disease/chikungunya/en/ . [ Google Scholar ]

[54].Eldi P, Cooper TH, Liu L, và cộng sự. Sản xuất vắc-xin chikungunya bằng công nghệ nền tảng dựa trên tế bào CHO và virus giảm độc lực. Mol Ther. 2017;25(10):2332–2344. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[55].Moizéis RNC, Fernandes TAAM, Guedes PMDM, và cộng sự. Sốt Chikungunya: mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Pathog Glob Health. 2018;112(4):182–194. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[56].Dreshaj S, Ahmeti S, Ramadani N, và cộng sự. Tình hình hiện tại của bệnh sốt xuất huyết Crimean-Congo ở Đông Nam Âu và các nước lân cận: Một rủi ro sức khỏe cộng đồng đối với Liên minh Châu Âu? Travel Med Infect Dis. 2016;14(2):81–91. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[57].Jauréguiberry S, Tattevin P, Tarantola A, et al. Sốt xuất huyết Crimean-Congo nhập khẩu. J Clin Microbiol. 2005;43(9):4905–4907. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[58].Lumley S, Atkinson B, Dowall SD, et al. Trường hợp sốt xuất huyết Crimean-Congo không tử vong nhập cảnh vào Vương quốc Anh (trừ Bulgaria), tháng 6 năm 2014. Eurosurveillance. 2014;19(30):6–8. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[59].Estrada-Pena A, Nieves FJ. Tác động của xu hướng khí hậu đến sự lây truyền mầm bệnh do ve truyền. Front Physiol. 2012;3:e64. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[60].Ansari H, Shahbaz B, Izadi S, và cộng sự. Sốt xuất huyết Crimean-Congo và mối liên hệ của nó với các yếu tố khí hậu ở Đông Nam Iran: kinh nghiệm 13 năm. J Infect Dev Ctries. 2014;8(6):749–757. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[61].Garrison AR, Shoemaker CJ, Golden JW, và cộng sự. Vắc-xin DNA phòng sốt xuất huyết Crimean-Congo bảo vệ chống lại bệnh tật và tử vong ở hai mô hình chuột gây chết người. PLoS Negl Trop Dis. 2017;11(9):e0005908. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[62].Zeller HG, Schuffenecker I. Virus Tây sông Nile: Tổng quan về sự lây lan của nó ở châu Âu và lưu vực Địa Trung Hải so với sự lây lan ở châu Mỹ. Eur J Clin Microbiol Infect Dis. 2004;23:147–156. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[63].Gossner CM, Marrama L, Carson M, và cộng sự. Giám sát virus Tây sông Nile ở Châu Âu: hướng tới phương pháp tiếp cận tích hợp động vật-con người-vật trung gian. Euro Surveill. 2017;22(18):30526. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[64].Paz S, Semenza JC. Các yếu tố môi trường tác động đến dịch tễ học sốt Tây sông Nile ở Châu Âu và Tây Á—Một bài tổng quan. Int J Environ Res Public Health. 2013;10:3543–3562. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[65].Petersen LR, Roehrig JT. Virus Tây sông Nile: mầm bệnh toàn cầu đang tái phát. Emerg Infect Dis. 2001;7:611–614. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[66].Drebot MA, Lindsay R, Barker IK, và cộng sự. Giám sát và chẩn đoán virus Tây sông Nile: góc nhìn từ Canada. Can J Infect Dis. 2003;14:105–114. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[67].Komar N, Clark GG. Hoạt động của virus Tây sông Nile ở Mỹ Latinh và Caribe. Rev Panam Salud Publica. 2006;19:112–117. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[68].EFSA/ECDC Báo cáo tóm tắt của Liên minh Châu Âu về xu hướng và nguồn gốc của các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người, tác nhân gây bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người và các đợt bùng phát do thực phẩm năm 2012. Efsa J. 2014;12(2):1–312. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[69].ECDC: Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu. Cập nhật hàng tuần: Mùa lây truyền sốt Tây sông Nin năm 2018 [Internet]. Stockholm: 23 tháng 11 năm 2018. [trích dẫn ngày 19 tháng 2 năm 2019]. Có tại: https://ecdc.europa.eu/en/west-nile-fever/surveillance-and-disease-data/disease-data-ecdc [ Google Scholar ]

[70].Paz S. Sự bùng phát của virus Tây sông Nile ở Israel (năm 2000) từ một góc nhìn mới: tác động của biến đổi khí hậu đến khu vực. Int J Environ Health Res. 2006;16(1):1–13. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[71].Platonov AE, Fedorova MV, Karan LS, và cộng sự. Dịch tễ học về nhiễm trùng sốt xuất huyết Tây sông Nin ở Volgograd, Nga, liên quan đến biến đổi khí hậu và sinh học của muỗi (Diptera: culicidae). Parasitol Res. 2008;103:S45–S53. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[72].Paz S, Malkinson D, Green MS, et al. Nhiệt độ mùa hè dễ chịu của đợt bùng phát sốt Tây sông Nin ở châu Âu năm 2010. PLoS ONE. 2013;8(2):e56398. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[73].Parker DE, Legg TP, Folland CK. Một loạt nhiệt độ hàng ngày mới của Trung Anh, 1772–1991. Int J Climatol. 1992;12(4):317–342. [ Google Scholar ]

[74].Lindgren E, Jaenson TGT. Bệnh Lyme Borreliosis ở Châu Âu: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và khí hậu, dịch tễ học, sinh thái học và các biện pháp thích ứng. Geneva, Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, 2006. Trang 1–34. Có sẵn tại: http://www.euro.who.int/__data/assets/pdf_file/0006/96819/E89522.pdf . [ Google Scholar ]

[75].CDC: Bệnh Lyme: Dữ liệu và giám sát [Internet] Atlanta (GA): Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh; [cập nhật ngày 9 tháng 11 năm 2018; trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: https://www.cdc.gov/lyme/stats/index.html . [ Google Scholar ]

[76].Lindgren E, Gustafson R. Viêm não do ve truyền ở Thụy Điển và biến đổi khí hậu. Lancet. 2001;358(9275):16–18. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[77].Franke J, Hildebrandt A, Dorn W. Khám phá những khoảng trống trong kiến thức của chúng ta về xoắn khuẩn gây bệnh Lyme - Cập nhật về tính không đồng nhất phức tạp, sinh thái học và khả năng gây bệnh. Ve Tick Borne Dis. 2013;4(1–2):11–25. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[78].Richard S, Oppliger A. Các bệnh nghề nghiệp lây truyền từ động vật sang người ở công nhân lâm nghiệp - Bệnh Lyme, bệnh tularemia và bệnh leptospirosis ở Châu Âu. Ann Agric Environ Med. 2015;22(1):43–50. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[79].Kaaijk P, Luytjes W. Tiêm chủng phòng bệnh Lyme: chúng ta đã sẵn sàng chưa? Hum Vaccin Immunother. 2016;12(3):757–762. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[80].Zhao H, Bao FF, Liu AH. Tính an toàn, khả năng sinh miễn dịch và hiệu quả của vắc-xin protein bề mặt ngoài A (OspA) của vi khuẩn Borrelia burgdorferi : Phân tích tổng hợp. J Infect Dev Ctries. 2017;11(1):1–9. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[81].CDC: Tác nhân/Bệnh tật khủng bố sinh học [Internet] Atlanta (GA): Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh; [cập nhật ngày 17 tháng 8 năm 2017, trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: https://emergency.cdc.gov/agent/agentlist-category.asp . [ Google Scholar ]

[82].Tosoni A, Mirijello A, Ciervo A, và cộng sự. Nhiễm Rickettsia aeschlimannii ở người : ca viêm gan cấp đầu tiên và tổng quan tài liệu. Eur Rev Med Pharmacol Sci. 2016;20:2630–2633. [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[83].Gonzalez PA, Escobar CE. Các bệnh truyền qua véc tơ có khả năng xuất hiện mới ở Địa Trung Hải và mối liên hệ có thể có của chúng với biến đổi khí hậu. Emergencias. 2011;23(5):386–393. [ Google Scholar ]

[84].de Sousa R, Nóbrega SD, Bacellar F, và cộng sự. Sốt đốm Địa Trung Hải ở Bồ Đào Nha: các yếu tố nguy cơ gây tử vong ở 105 bệnh nhân nhập viện. Ann NY Acad Sci. 2003;990:285–294. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[85].Morais JD, Dawson JE, Greene C, et al. Trường hợp đầu tiên ở châu Âu về bệnh ehrlichiosis. Lancet. 1991;338(8767):633–634. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[86].Ismail N, McBride JW. Nhiễm trùng mới nổi do ve gây ra bệnh ehrlichiosis và bệnh anaplasmosis. Clin Lab Med. 2017;37(2):317. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[87].Parola P, Paddock CD, Socolovschi C, và cộng sự. Cập nhật về bệnh Rickettsia do ve truyền trên toàn thế giới: một cách tiếp cận địa lý. Clin Microbiol Rev. 2013;26(4):657–670. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[88].ECDC: Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu. Tình hình dịch tễ học về bệnh Rickettsia ở các nước EU/EFTA [Internet]. Stockholm: Tháng 10 năm 2013 [trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: https://ecdc.europa.eu/sites/portal/files/media/en/publications/Publications/Rickettsia_2010_final.pdf . [ Google Scholar ]

[89].Raoult D, Dupont HT, Caraco P, et al. Sốt phát ban Địa Trung Hải ở Marseille - dịch tễ học mô tả và ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu. Eur J Epidemiol. 1992;8(2):192–197. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[90].Vescio MF, Piras MA, Ciccozzi M, và cộng sự. Báo cáo ngắn: các yếu tố xã hội-nhân khẩu học và khí hậu như mối tương quan của sốt phát ban Địa Trung Hải (MSF) ở miền bắc Sardinia. Am J Trop Med Hyg. 2008;78(2):318–320. [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[91].Richards AL. Vắc-xin Rickettsia: cũ và mới. Vắc-xin sửa đổi chuyên gia. 2004;3(5):541–555. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[92].CDC: Sốt Rickettsia (Sốt đốm & Sốt phát ban) & Các bệnh nhiễm trùng liên quan, bao gồm bệnh sốt Anaplasmosis & bệnh Ehrlichiosis [Internet] Atlanta (GA): Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh; [cập nhật ngày 31 tháng 5 năm 2017, trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: https://wwwnc.cdc.gov/travel/yellowbook/2018/infectious-diseases-related-to-travel/rickettsial-spotted-and-typhus-fevers-and-related-infections-including-anaplasmosis-and-ehrlichiosis . [ Google Scholar ]

[93].Carvalho CL, de Carvalho IL, Ze-Ze L, et al. Bệnh tularemia: Một bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người đầy thách thức. Comp Immunol Microbiol Infect Dis. 2014;37(2):85–96. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[94].Maurin M, Gyuranecz M. 016. Bệnh tularemia: các khía cạnh lâm sàng ở Châu Âu. Lancet Infect Dis. 2016;16(1):113–124. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[95].Oyston PCF, Sjostedt A, Titball RW. Bệnh tularaemia: phòng thủ chống khủng bố sinh học khơi lại mối quan tâm đến Francisella tularensis . Nat Rev Microbiol. 2004;2:967–978. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[96].Gurcan S. Dịch tễ học về bệnh tularemia. Balk Med J. 2014;31(1):3–10. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[97].Nadjm B, Behrens RH. Sốt rét: Cập nhật cho bác sĩ. Infect Dis Clin North Am. 2012;26(2):243–259. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[98].WHO: Báo cáo sốt rét thế giới năm 2017 [Internet] Geneva (Thụy Sĩ): Tổ chức Y tế Thế giới [trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: http://www.who.int/malaria/media/world-malaria-report-2017/en/ [ Google Scholar ]

[99].Kwiatkowski DP. Bệnh sốt rét đã ảnh hưởng đến bộ gen người như thế nào và di truyền học người có thể dạy chúng ta điều gì về bệnh sốt rét. Am J Hum Genet. 2005;77(2):171–192. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[100].Hedrick PW. Di truyền quần thể của khả năng kháng sốt rét ở người. Di truyền (Edinb). 2011;107(4):283–304. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[101].Perkins DJ, Were T, Davenport GC, và cộng sự. Thiếu máu do sốt rét nặng: miễn dịch bẩm sinh và sinh bệnh học. Int J Biol Sci. 2011;7(9):1427–1442. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[102].Tanser FC, Sharp B, le Sueur D. Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đến sự lây truyền bệnh sốt rét ở Châu Phi. Lancet. 2003;362(9398):1792–1798. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[103].Gething PW, Smith DL, Patil AP, và cộng sự. Biến đổi khí hậu và suy thoái sốt rét toàn cầu. Nature. 2010;465:342–346. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[104].Lyke KE. Tiến triển ổn định hướng tới vắc-xin sốt rét. Curr Opin Infect Dis. 2017;30(5):463–470. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[105].Oryan A, Akbari M. Các yếu tố nguy cơ trên toàn thế giới đối với bệnh leishmaniasis. Asian Pac J Trop Med. 2016;9(10):901–909. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[106].Colacicco-Mayhugh MG, Masuoka PM, Grieco JP. Mô hình hốc sinh thái của Phlebotomus alexandriP. papatasi (Diptera: psychodidae) ở Trung Đông. Int J Health Geogr. 2010;9:e2. [ DOI ] [ PMC miễn phí bài báo ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[107].Alvar J, Velez ID, Bern C, et al. Bệnh Leishmaniasis trên toàn thế giới và ước tính tỷ lệ mắc bệnh trên toàn cầu. PLoS ONE. 2012;7(5):e35671. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[108].WHO: Bệnh Leishmaniasis [Internet] Geneva (Thụy Sĩ): Tổ chức Y tế Thế giới [ngày 14 tháng 3 năm 2018, trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: http://www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/leishmaniasis . [ Google Scholar ]

[109].WHO: Kiểm soát bệnh leishmania [Internet] Geneva (Thụy Sĩ): Tổ chức Y tế Thế giới [2010, trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2018]. Có tại: http://apps.who.int/iris/bitstream/10665/44412/1/WHO_TRS_949_eng.pdf . [ Google Scholar ]

[110].Torpiano P, Pace D. Bệnh Leishmaniasis: các vấn đề chẩn đoán ở Châu Âu. Expert Rev Anti-Infect Ther. 2015;13(9):1123–1138. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[111].Ribeiro RR, Michalick MSM, Da Silva ME, và cộng sự. Bệnh leishmaniasis ở chó: Tổng quan về tình trạng hiện tại và các chiến lược kiểm soát. BioMed Res Int. 2018;e3296893. [ DOI ] [ Bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[112].Chobu M, Nkwengulila G, Mahande AM, và cộng sự. Tác động trực tiếp và gián tiếp của động vật ăn thịt lên Anophele gambiae sensu stricto. Acta nhiệt đới. 2015;142:131–137. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[113].Diabate A, Tripet F. Nhắm mục tiêu vào hành vi giao phối của muỗi đực để kiểm soát bệnh sốt rét. Parazit Vectors. 2015;8:e347. [ DOI ] [ bài báo miễn phí PMC ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[114].Lezaun J, Porter N. Kiểm soát và cạnh tranh: động vật chuyển gen trong chương trình nghị sự Một Sức khỏe. Khoa học Xã hội Y khoa. 2015;129(SI):96–105. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[115].Champer J, Buchman A, Akbari OS. Lừa đảo quá trình tiến hóa: Kỹ thuật điều khiển gen để thao túng số phận của quần thể hoang dã. Nat Rev Genet. 2016;17(3):146–159. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[116].Anne-Sophie B, Benoit G. Các tác nhân gây bệnh kháng nhiều loại thuốc (hoặc kháng thuốc kháng sinh) - giải pháp thay thế cho kháng sinh mới? Swiss Med Wkly. 2017;147:w14553. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]

[117].Cansizoglu MF, Toprak E. Chống lại sự tiến hóa của tình trạng kháng kháng sinh bằng cách sử dụng thuốc kháng khuẩn có khả năng tiến hóa. Curr Genet. 2017;63(6):973–976. [ DOI ] [ PubMed ] [ Google Scholar ]