So sánh Artemether – Lumefantrine và Dihydroartemisinin – Piperaquine
Mục tiêu : So sánh hiệu quả và độ an toàn của phác đồ Artemether – Lumefantrine (AL) vàDihydroartemisinin – Piperaquine (DP) trong điều trị sốt rét thường do Plasmodium falciparum tại Uganda.
Thiết kế nghiên cứu : Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đơn.
Địa điểm nghiên cứu : Apac, Uganda (vùng sốt rét lưu hành nặng)
Thời gian nghiên cứu : Tháng 3 -7/2006
Đối tượng : Trẻ em từ 6 tháng tuổi đến 10 tuổi bị sốt rét thường do Plasmodium falciparum.
Thuốc sử dụng : AL và DP liều chuẩn 3 ngày.
Đo lường kết quả : Nguy cơ xuất hiện lại ký sinh trùng trong máu sau 28 và 42 ngày, xếp theo nhóm không điều chỉnh và nhóm có điều chỉnh dựa trên phân loại gen để phân biệt sự tái phát ký sinh trùng sau điều trị (recrudescence) với nhiễm mới.
Kết quả: Theo dõi được 417 trên tổng số 421 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu (99%), kết quả như sau:
Không điều chỉnh : Nguy cơ xuất hiện lại KST trong máu thấp hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm được điều trị DP so với nhóm được điều trị AL. Sau 28 ngày nguy cơ này là 11% (so với 29% của nhóm AL), khác biệt nguy cơ (RD) giữa 2 nhóm là 18%, khoảng tin cậy (KTC) 95% là 11-26%. Sau 42 ngày là 43% (so với 53% của nhóm AL), RD là 9,6%, KTC 95% là 0%-19%.
Có điều chỉnh bằng phân loại gen : Kết quả cũng tương tự như không điều chỉnh, nguy cơ xuất hiện ký sinh trùng trong máu do khả năng KST tái phát sau điều trị cũng thấp hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm được điều trị DP so với nhóm được điều trị AL. Sau 28 ngày nguy cơ này là 1,9% (so với 8,9% của nhóm AL), RD là 7%, KTC 95% là 2,5-12%.. Sau42 ngày là 6,9% (so với 16% ở nhóm AL), RD là 9,5%, KTC 95% là 2,8% - 16%.
Nguy cơ xuất hiện ký sinh trùng không phải là chủng Plasmodium falciparum cũng như sự phát triển giao bào thấp hơn ở nhóm được điều trị DP so với nhóm được điều trị AL, đồng thời nồng độ hemoglobin trung bình ở nhóm DP cũng cao hơn nhóm AL. Cả 2 thuốc Dihydroartemisinin và Piperaquine đều được hấp thu tốt, hiếm tác dụng phụ và tác dụng này không liên quan đến thuốc nghiên cứu.
Kết luận : DP tỏ ra có ưu thế hơn AL trong việc giảm nguy cơ tái xuất hiện ký sinh trùng và giao bào trong máu bệnh nhân, đồng thời cũng tỏ ra có ưu thế hơn trong việc hồi phục nồng độ hemoglobin. Như vậy DP tỏ ra là thuốc thay thế AL để trở thành thuốc hàng đầu trong điều trị sốt rét thường ở Ugada. Để tối đa hóa lợi ích của phối hợp Artemisinin thì việc điều trị nên được lồng ghép với chiến lược giảm sự lan truyền bệnh sốt rét tại châu Phi.
TIN KHÁC
Hoạt động điều tra chủ động ký sinh trùng sốt rét tại xã Phú Giáo và Phước Hòa, TP. Hồ Chí Minh
Đặc điểm dịch tễ học sốt rét khu vực Nam Bộ - Lâm Đồng giai đoạn năm 2020 - 2024
KÝ SINH TRÙNG SỐT RÉT Plasmodium knowlesi
NGUY CƠ TỬ VONG TỪ SỐT RÉT NGOẠI LAI
Hoạt động giám sát muỗi truyền bệnh sốt rét tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh
Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Sốt rét – KST – CT TP. HCM (18/01/1977 – 18/01/2017) & Đón nhận Huân chương Lao động hạng I
13/01/2017Lớp tập huấn đánh giá kết quả phòng chống sốt rét giai đoạn 2011 - 2015
26/10/2015Thông báo tuyển sinh khóa 45 năm 2015
23/10/2015Công đoàn Viện Sốt rét - KST - CT TP. HCM tổ chức tham quan du lịch
19/10/2015